Jump to content




Advertisements




Ngự định TINH LỊCH KHẢO NGUYÊN


36 replies to this topic

#31

Quách Ngọc Bội



 

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29092 thanks
  • LocationThảo Nguyên

 

Gửi vào 29/03/2018 - 10:47

Tàm Tht

"Kham Dư Kinh" viết: "Tàm Thất ấy, Hung Thần của Tuế vậy. Chủ về sự việc của kén tằm kéo sợi trắng. Chỗ của cái lý của nó, không thể tu sửa, nếu phạm vào, tơ tằm mất mùa.

"Quảng Thánh Lịch" viết: "Tàm Thất ấy, thường đối xung với Lực Sĩ".

Tào Chấn Khuê viết: "Tàm Thất ấy, chỗ của Tằm Thần vậy".

"Lễ Ký" nói: "Thời xưa từ Thiên Tử tới Chư Hầu, nhất định có cây dâu đực, kén tằm, gần sông mà thành, xây cung 1 Nhẫn 3 Thước (QNB chú: Nhẫn là đơn vị đo chiều dài cổ, thời Chu thì 1 Nhẫn = 6 thước 4 tấc 8 phân, thời Hán thì 1 Nhẫn = 8 thước), Cức tường mà chặn bên ngoài (QNB chú: Cức là 1 loại cây táo mà thời nhà Chu trồng ở sân trước hoàng cung, thường thành cụm 3 cây Hòe 9 cây Cức, lúc các quan chờ tới giờ vào chầu thì phân chia thứ bậc để ngồi, tước Tam Công ngồi ở 3 cây Hòe, tước Cửu Khanh thì ngồi ở 9 cây Cức, sau này Tam Công Cửu Khanh còn gọi là Tam Hòe Cửu Cức), và buổi sáng lúc bình minh, da của vua có dấu đốm trắng, chọn phu nhân của tam cung, cát lợi của phụ nữ, dùng đưa vào Tàm Thất, dâng giống tắm ở sông, cây dâu so với cây dâu đực, gióng dừng mới ăn vậy".

"Nguyệt Lệnh" viết: "Tháng của Quý Xuân, đám hậu phi tề giới, thân thích đích thân chăn tằm, cấm phụ nữ xem, bỏ bớt phụ nữ đã dùng, dùng khuyến khích việc chăn tằm, việc chăn tằm đã chín, chia kén đo tơ, dùng làm trang phục của giao miếu, không dám biếng nhác".

Như thế có thể thấy, chính là Tàm Thất khởi ở Khôn. Khôn ấy, vị trí của Ngọc Đường, chỗ của hậu cung, đất của sông rộng. Chỗ tuần hành của nó ở Tứ Duy. Cái áp dụng ở vị trí thổ của Tứ Quý, áp dụng cái nghĩa của gần sông, phương hướng sở tại, từ Thiên Tử tới thứ dân đều nguyện cúng tế.


Tàm Quan

"Lịch Lệ" viết: "Tàm Quan ấy, thần của năm chấp chưởng tơ tằm vậy. Chỗ của nó quản lý, kị xây dựng cung thất, phạm vào thì tằm mẹ lắm bệnh, kén tằm thất thu".

Lê Cán viết: "Tuế tại phương Đông, cư Tuất; tại phương Nam, cư Sửu; tại phương Tây, cư Thìn; tại phương Bắc, cư Mùi".

Đối chiếu: Tàm Quan ấy, nói chung về các quan coi việc phòng dâu tằm, khiến tằm được nuôi vậy. Như Tuế ở phương Đông thuộc Mộc, mà Mộc thì có Dưỡng ở Tuất, cho nên (Tàm Quan được an) tại Tuất. Tuế ở phương Nam thuộc Hỏa, mà Hỏa có Dưỡng ở Sửu, cho nên tại Sửu. Tuế tại phương Tây thuộc Kim, mà Kim có Dưỡng ở Thìn, cho nên tại Thìn. Tuế tại phương bắc thuộc Thủy, mà Thủy có Dưỡng ở Mùi, cho nên tại Mùi vậy.


Tàm Mnh

"Lịch Lệ" viết: "Tàm Mệnh ấy, thần chấp chưởng mệnh của tằm vậy. Chỗ của nó quản lý, không thể cử động, trăm sự phạm vào, chủ hại tằm thất thu tơ kén".

Lê Cán viết: "Tuế tại phương Bắc, (Tàm Mệnh) cư Thân; Tuế tại phương Đông, cư Hợi; Tuế tại phương Nam, cư Dần; Tuế tại phương Tây, cư Tị".

Đối chiếu: Tàm Mệnh ấy, chỗ được sinh của tằm vậy. Như Tuế tại phương Bắc thuộc Thủy, mà Thủy có (Tràng) Sinh ở Thân, cho nên (Tàm Mệnh ở Thân); Tuế tại phương Đông thuộc Mộc, Mộc Sinh ở Hợi, cho nên tại Hợi; Tuế tại phương Nam thuộc Hỏa, Hỏa Sinh ở Dần, cho nên tại Dần; Tuế tại phương Tây thuộc Kim, Kim Sinh ở Tị, cho nên tại Tị.

Tàm Mệnh ngày nay, năm Tý, tại Mùi; năm Sửu tại Ngọ; năm Dần, tại Hợi; năm Mão, tại Tuất; năm Thìn tại Tị; năm Tị, tại Sửu; năm Ngọ, tại Dần; năm Mùi, tại Thân; năm Thân, tại Mão; năm Dậu, tại Thìn; năm Tuất, tại Tý; năm Hợi, tại Dậu. Những cái này e rằng có sự sai lầm.

Lại đối chiếu: Vạn Toàn Quảng Tế nói: "năm Hợi Tý Sửu, Mùi Khôn Thân; năm Dần Mão Thìn, Tuất Càn Hợi; năm Tị Ngọ Mùi, Sửu Cấn Dần; năm Thân Dậu Tuất, Thìn Tốn Tị". Giả như năm Hợi Tý Sửu, Tàm Quan tại Mùi, Tàm Thất tại Khôn, Tàm Mệnh tại Thân vậy, ngoài ra cứ phỏng theo đó.

Thanked by 2 Members:

#32

Quách Ngọc Bội



 

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29092 thanks
  • LocationThảo Nguyên

 

Gửi vào 29/03/2018 - 11:03

Thái Âm

"Thần Khu Kinh" viết: "Thái Âm ấy, phía sau Tuế vậy, thường cư ở sau Tuế 2 thần. Chỗ nó quản lý, không thể khởi công xây dựng, sửa chữa".

"Bồng Doanh Thư" viết: "Tuế tại Tứ Mạnh, thì cùng với Đại Tướng Quân hợp; ở Tứ Trọng, tên là Quần Sửu".

Tào Chấn Khuê viết: "Chỗ của hậu phi ấy, hậu cung vậy. Sao của hậu cung, ở tại chỗ sau Đế 2 sao. Tử Vi viên, Bắc cực ngũ tinh, sao thứ 2 là Đế tinh, sao thứ tư là hậu cung. Cho nên Thái Âm thường ở sau Thái Tuế 2 thần, năm Tý khởi Tuất thuận hành 12 thần. Như năm Tý tại Tuất thì năm Sửu tại Hợi, năm Dần tại Tý vậy".


Đại Tướng Quân

"Thần Khu Kinh" viết: "Đại Tướng Quân ấy, Đại Tướng của Tuế vậy. Thống ngự uy vũ, tổng lĩnh chiến phạt. Nếu tướng lệnh của quốc gia xuất quân, công thành, đánh trận, thì hợp đảm nhiệm, còn thông thường thì phát động bắt đầu làm cái gì cũng đều không được phạm vào".

Lý Đỉnh Tộ viết: "Mạnh Tuế Dần Thân Tị Hợi lấy Thắng Quang Ngọ. Trọng Tuế Tý Ngọ Mão Dậu lấy Tiểu Cát Mùi, Quý Tuế Thìn Tuất Sửu Mùi lấy Truyền Tống Thân, thêm trên Tuế gặp Thiên Cương Thìn, làm Đại Tướng Quân. Như năm Tý là năm Trọng, thì lấy Mùi thêm Tý của Tuế, đếm thuận tới Dậu được Thìn, thì Dậu là Đại Tướng Quân vậy. Ngoài ra cứ phỏng theo đó. (QNB chú: chỗ này sách viết có điểm nhầm lẫn, độc giả lưu ý).

Tào Chấn Khuê viết: "Đại Tướng Quân, đức của nó trung trực, thường cư ở Tứ Chính, 3 năm 1 lần chuyển dịch, chỗ nó quản lý, có thể lấy tướng lệnh ra quân, tuyển uy dũng, dùng chinh phạt bất nghĩa".

Đối chiếu: Đại Tướng Quân ấy, thống ngự chức của võ thần, có tượng của Hộ Vệ Hổ Bôn. Cho nên cư ở vị trí Tứ Chính, mà theo sau của vua Tuế vậy. Như Dần Mão Thìn Tuế ở phương Đông, thì cư ở chính Bắc; Tị Ngọ Mùi Tuế ở phương Nam, thì cư ở chính Đông; Thân Dậu Tuất Tuế ở phương Tây, thì cư ở chính Nam; Hợi Tý Sửu Tuế ở phương Bắc, thì cư ở chính Tây vậy.


Tuế Hình

"Tằng Môn Kinh" viết: "Tuế Hình ấy, thần của nhục hình vậy. Kim cứng lửa mạnh, tất cả các nơi nó trông giữ, cây rụng về cội, nước chảy tới cạn".

Dực Phụng viết: "Tị Dậu Sửu, vị trí của Kim, Hình tại phương Tây, nói Kim ỷ vào thứ cứng rắn của nó, chớ có đối đầu; Dần Ngọ Tuất, vị trí của Hỏa, Hình tại phương Nam, nói hỏa ỷ vào thứ mạnh mẽ của nó, chớ có đối đầu; Hợi Mão Mùi, vị trí của Mộc, Hình tại phương Bắc, nói Mộc ỷ vào vinh hoa, cho nên âm khí hình, khiến cho tàn tạ; Thân Tý Thìn, vị trí của Thủy, Hình tại phương Đông, nói Thủy ỷ vòa tính âm tà, cho nên dương khí hình, khiến cho không hồi phục. Vì lẽ đó Tý Hình Mão, Sửu hình Tuất, Dần hình Tị, Mão hình Tý, Tị hình Thân, Mùi hình Sửu, Thân hình Dần, Tuất hình Mùi, Thìn Ngọ Dậu Hợi là tự hình vậy".

"Quảng Thánh Lịch" viết: "Chỗ của Tuế Hình, công phá thành, đánh trận không thể phạm vào, động thổ, khởi công cũng cần phải tránh, phạm vào thì gặp nhiều tranh đấu".

Đối chiếu: Thuyết của tương hình, họ Dực nói rất rõ ràng. Đại thể lấy Tị Dậu Sửu hình Thân Dậu Tuất, thì Tị hình Thân, Dậu tự hình, Sửu hình Tuất vậy; lấy Dần Ngọ Tuất hình Tị Ngọ Mùi, thì Dần hình Tị, Ngọ tự hình, Tuất hình Mùi vậy; lấy Thân Tý Thìn hình Dần Mão Thìn, thì Thân hình Dần, Tý hình Mão, Thìn tự hình vậy; lấy Hợi Mão Mùi hình Hợi Tý Sửu, thì Hợi tự hình, Mão hình Tý, Mùi hình Sửu vậy.


Tuế Phá

"Quảng Thánh Lịch" viết: "Tuế Phá ấy, thần của chỗ xung với Thái Tuế vậy. Chỗ của nó không thể tu sửa, khởi tạo, di tỷ (dọn chuyển, thay đổi), giá thú, viễn hành, phạm vào thì chủ hao tài tốn vật hại đến phụ huynh. Chỉ có việc chiến phạt hướng đến thì cát".

"Mình Thời Tổng Yếu" viết: "Tuế Phá ấy, năm Tý tại Ngọ, thuận hành 12 thần vậy".

Thanked by 2 Members:

#33

Quách Ngọc Bội



 

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29092 thanks
  • LocationThảo Nguyên

 

Gửi vào 29/03/2018 - 11:25

Tuế Sát

"Thần Khu Kinh" viết: "Tuế Sát ấy, âm khí rất độc, gọi là sát vậy. Thường cư ở Tứ Quý, gọi là âm khí của Tứ Quý, có thể đi lại trên bầu trời".

Lý Đỉnh Tộ viết: Dần Ngọ Tuất, Sát tại Sửu; Tị Dậu Sửu, Sát tại Thìn; Thân Tý Thìn, Sát tại Mùi; Hợi Mão Mùi, Sát tại Tuất".

"Quảng Thánh Lịch" viết: "Chỗ của Tuế Sát, không thể nói bừa, xây dựng, kinh doanh, di tỷ (dọn chuyển, thay đổi), phạm vào thị hại đến con cháu, lục súc".

Tào Chấn Khuê viết: "Sát ấy, vị trí tam hợp ngũ hành thành hình, cái gọi là dưỡng chính là vậy, đại để thành hình của vật, mẹ phải có tổn thương, cho nên gọi là sát".


Kiếp Sát

"Thần Khu Kinh" viết: "Kiếp Sát ấy, âm khí của Tuế vậy, chủ có sự sát hại. Chỗ của nó quản lý, kị có sự hưng tạo, phạm vào chủ có tai nạn, trộm cướp, sự việc đao thương".

Lý Đỉnh Tộ viết: năm Dần Ngọ Tuất tại Hợi, năm Hợi Mão Mùi tại Thân, năm Thân Tý Thìn tại Tị, năm Tị Dậu Sửu tại Dần vậy." Ý nghĩa xem ở tiết bên dưới.


Tai Sát

"Thần Khu Kinh" viết: "Tai Sát ấy, vị trí của ngũ hành âm khí vậy". Thường cư ở trước Kiếp Sát 1 thần, chủ về tai bệnh, tật ách. Chỗ của nó quản lý, không thể đặt hướng, xây dựng, kiến tạo. Phạm vào thì chủ gánh lấy có bệnh hoạn.

"Động Nguyên Kinh" viết: "Kiếp Sát khởi ở Tuyệt, Tai Sát khởi ở khắc. Giả như năm Thân Tý Thìn hợp Thủy cục, Thủy tuyệt ở Tị, cho nên Kiếp Sát tại Tị, Thai ở Ngọ, thêm Thủy với với Ngọ Hỏa tương khắc, cho nên Tai Sát tại Ngọ vậy; năm Tị Dậu Sửu hợp Kim cục, Kim Tuyệt ở Dần cho nên Kiếp Sát tại Dần, Thai ở Mão, thêm Kim với Mão Mộc tương khắc, cho nên Tai Sát tại Mão vậy. Ngoài ra phỏng theo đó".

Đối chiếu: Kiếp Sát, Tai Sát, Tuế Sát chính là Tam Sát. Như họ Tào nói thì là vị trí của tam hợp ngũ hành Tuyệt Thai Dưỡng vậy, mà đối với Tuyệt Thai Dưỡng thì Mộ khố ở sau và Trường Sinh ở trước. Thần Khu Kinh gọi là âm khí chính là vậy, hoặc gọi là Tam Sát ấy, chỗ xung của tam hợp ngũ hành, cho nên có thuyết của việc hợp hướng về và không hợp với tọa, như Thân Tý Thìn hợp Thủy cục, Thủy vượng ở phương Bắc, thì phương Nam là chỗ xung của nó vậy, cho nên Tam Sát ở tại phương Nam gồm Tị Ngọ Mùi, ngoài ra cứ phỏng theo đó.


Phc Binh Đại Ha

"Lịch Lệ" viết: "Phục Binh, Đại Họa ấy, ngũ binh của Tuế vậy. Chủ thay đổi việc binh, hình sát, chỗ của nó quản lý, kỵ xuất binh, hành quân và tu tạo, phạm vào chủ có sai lầm hại binh, nhục hình".

Lê Cán viết: "Năm Dần Ngọ Tuất, Phục Binh tại Nhâm, Đại Họa tại Quý; năm Hợi Mão Mùi, Phục Binh tại Canh, Đại Họa tại Tân; năm Thân Tý Thìn, Phục Binh tại Bính, Đại Họa tại Đinh; năm Tị Dậu Sửu, Phục Binh tại Giáp, Đại Họa tại Ất chính là vậy".

Tào Chấn Khuê viết: "Phục Binh Đại Họa ấy, lấy Dương Can của tướng vị tam hợp ngũ hành làm Phục Binh, Âm Can là Đại Họa. Phục Binh tai vạ rất lớn, tổn hại nhẹ. Nhưng Mộc Hỏa lấy cái nó đến khắc, Kim Thủy thì lấy cái nó bị khắc, đại khái Kim là Bạch Hổ, có thể giết vạn vật, Thủy là Huyền Vũ, có thể sau rốt vạn vật. Cho nên ngược lại lấy cái sở khắc làm kị vậy".

Đối chiếu: Phục Binh Đại Họa ngay cạnh chỗ khoảng của Tam Sát, như năm Thân Tý Thìn thì Tam Sát tại Tị Ngọ Mùi, Phục Binh Đại Họa sẽ ở Bính Đinh chính là vậy, ngoài ra cứ phỏng theo đó.


Quan Phù

"Lịch Lệ" viết: "Quan Phù ấy, hung thần của Tuế vậy. Chủ sự việc của quan phủ, tố tụng. Chỗ của nó quản lý, không thể khởi công động thổ, phạm vào thì chủ có việc hình ngục kiện tụng. Thường cư ở trước Tuế 4 thần.

Tào Chấn Khuê viết: "Quan chấp chưởng tín phù trong năm, chức của văn quyền vậy. Thường cư ở thần trước tam hợp, cho nên tiền thần là văn quan, hậu thần là võ chức. Giả sử Tuế tại Dần, mà Dần Ngọ Tuất là tam hợp Hỏa cục, thì Ngọ có Quan Phù, văn quyền vậy; Tuất có Bạch Hổ, võ chức vậy. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.

Thanked by 3 Members:

#34

Quách Ngọc Bội



 

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29092 thanks
  • LocationThảo Nguyên

 

Gửi vào 30/03/2018 - 12:03

Kim Thn

"Hồng Phạm Thiên" viết: "Kim Thần ấy, tinh của Thái Bạch, thần của Bạch Thú. Chủ về chiến tranh, loạn lạc chết chóc, thủy hạn, dâm dịch (dịch bệnh tràn lan). Chỗ của nó quản lý, kị xây thành trì, lập cung thất, dựng lầu gác, mở vườn tược, khởi công, thượng lương, xuất quân, chinh phạt, di tỷ, giá thú, viễn hành, phó nhậm, nếu phạm vào Kim Thần ấy thì tai vạ rất nặng".

"Kham Dư Kinh" viết:
"Giáp Kỷ chi niên tại Ngọ, Mùi, Thân, Dậu
Ất Canh chi niên tại Thìn, Tị
Bính Tân chi niên tại Tý, Sửu, Dần Mão, Ngọ, Mùi
Đinh Nhâm chi niên tại Dần, Mão, Tuất, Hợi
Mậu Quý chi niên tại Thân, Dậu, Tý, Sửu".

Tào Chấn Khuê viết: "Kim Thần ấy, lấy Can năm ngũ hổ, bắt đầu trải qua gặp vị trí của Canh, Tân và Nạp Âm Kim thì chính là nó vậy. Giả sử như năm Giáp năm Kỷ, khởi Bính Dần, tư Dần thuận hành được Canh Ngọ, Tân Mùi, lại thêm Nhâm Thân và Quý Dậu đều có Nạp Âm là Kiếm Phong Kim, cho nên năm Giáp Kỷ thì Ngọ, Mùi, Thân, Dậu là Kim Thần vậy. Ngoài ra cứ phỏng theo đó".


Phá Bi Ngũ Qu

"Càn Khôn Bảo Điển" viết: "Ngũ Quỷ ấy, tinh khí của ngũ hành vậy, chủ các việc hư hao, chỗ của nó quản lý không thể khởi sự, đề cử, phạm vào chủ hao tán tài vật".

"Lịch Lệ" viết: "Năm Giáp Nhâm tại Tốn; năm Ất Quý tại Cấn; năm Đinh tại Chấn, năm Mậu tại Ly; năm Kỷ tại Khảm; năm Canh tại Đoài; năm Tân tại Càn".

Tào Chấn Khuê viết: "Thiên Văn Chí nói rằng, Tú (chòm sao) Quỷ có 5 nguyên nhân, lấy làm tên cái phá bại, xung mà tán vậy".

Đối chiếu: Phép Nạp Giáp, Càn nạp Giáp Nhâm, chỗ xung của nó (tức Càn) ở Tốn, cho nên năm Giáp Nhâm (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) tại Tốn vậy; Khôn nạp Ất Quý, chỗ xung của nó (Khôn) ở Cấn, cho nên năm Ất Quý (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) ở tại Cấn vậy; Cấn nạp Bính, chỗ xung của nó (Cấn) ở Khôn, cho nên năm Bính (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) ở tại Khôn vậy; Đoài nạp Đinh, chỗ xung của nó (Đoài) ở Chấn, cho nên năm Đinh (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) ở tại Chấn vậy; Khảm nạp Mậu, chỗ xung của nó (Khảm) tại Ly, cho nên năm Mậu (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) ở tại Ly vậy; Ly nạp Kỷ, chỗ xung của nó (Ly) tại Khảm, cho nên năm Kỷ (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) ở tại Khảm vậy; Chấn nạp Canh, chỗ xung của nó (Chấn) tại Đoài, cho nên năm Canh (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) ở tại Đoài; Tốn nạp Tân, chỗ xung của nó (Tốn) tại Càn, cho nên năm Tân (thì Phá Bại Ngũ Quỷ) tại Càn vậy.


Thái Tuế t h thn sát xut du nht

"Lịch Lệ" viết: "Thái Tuế xuất du nhật ấy, ngày Giáp Tý xuất du ở Đông, ngày Kỷ Tị quay lại vị trí; ngày Bính Tý xuất du ở Nam, ngày Tân Tị quay lại vị trí; ngày Mậu Tý xuất du ở Trung Cung, ngày Quý Tị hoàn vị; ngày Canh Tý xuất du ở Tây, ngày Ất Tị hoàn vị; ngày Nhâm Tý xuất du ở Bắc, ngày Đinh Tị hoàn vị; tổng cộng xuất du 25 ngày".

Tào Chấn Khuê viết: "Thái Tuế chư thần ấy, cái hóa Địa Chi của âm khí vậy. Từ Tý đến Tị là các thần Dương khí tráng kiện thịnh vượng, âm khí thụ chế ở Dương thần, không dám nắm quyền, cho nên người ta nói nó xuất du vậy".

Đối chiếu: Xuất du nhật, đều dùng can ngày ngũ Tý làm nơi đi đến. Giáp là Mộc phương Đông, cho nên ngày Giáp Tý nó Đông du; Bính là Hỏa phương Nam, cho nên ngày Bính Tý nó Nam du; Canh là Kim phương Tây, cho nên ngày Canh Tý nó Tây du; Nhâm là Thủy phương Bắc, cho nên ngày Nhấm Tý nó Bắc du; Mậu là Thổ ở Trung Ương, cho nên ngày Mậu Tý nó du hành ở Trung Cung. Số 5 ấy, là cực của số Sinh, cho nên mọi cái đều xuất du 5 ngày, (nên) 5 (lần) 5 (của nó) là 25 vậy.


Ngũ Tính tu trch

Tiếng Cung là Thổ, tiếng Thương là Kim, tiếng Giốc là Mộc, tiếng Chủy là Hỏa, tiếng Vũ là Thủy, nếu như Tuế gặp vị trí Tuyệt, là khí Tuyệt, Thai, là Bạch Hổ. Bản thân Mộ là Đại Mộ, xung Mộ là Tiểu Mộ, khắc Tuế Chi là hại tài vật, cái Tuế Chi đến khắc là Quỷ tặc, đồng loại là Đại Thông, tương sinh là là Tiểu Thông.
Như họ nhà Cung thuộc Thổ, có Trường Sinh ở Thân, thì năm Tị khí Tuyệt, năm Ngọ Bạch Hổ, năm Thân Dậu Tiểu Thông, năm Thìn Đại Mộ, năm Tuất Tiểu Mộ, năm Sửu Đại Thông, năm Hợi Tý hại tài, năm Dần Mão Quỷ Tặc vậy.
Họ nhà Thương thuộc Kim, năm Dần khí Tuyệt, năm Mão Bạch Hổ, năm Sửu Đại Mộ, năm Mùi Tiểu Mộ, năm Tị Ngọ Quỷ Tặc, năm Thân Dậu Đại Thông, năm Thìn Tuất Hợi Tý Tiểu Thông vậy.
Họ nhà Giốc thuộc Mộc, năm Thân là khí Tuyệt Quỷ Tặc, năm Dậu là Bạch Hổ Quỷ Tặc, năm Mùi là Tiểu Mộ, năm Thìn Tuất là hại tài, năm Dần Mão là Đại thông, năm Tị Ngọ Hợi Tý là Tiểu Thông vậy.
Họ nhà Chủy thuộc Hỏa, năm Hợi là Khí Tuyệt Quỷ Tặc, năm Tý là Bạch Hổ Quỷ Tặc, năm Tuất là Đại Mộ, năm Thìn là Tiểu Mộ, năm Thân Dậu là Hại tài, năm Dần Mão Sửu Mùi là Tiểu Thông, năm Tị Ngọ là Đại Thông vậy.
Họ nhà Vũ thuộc Thủy, thì năm Tị là Khí Tuyệt, năm Ngọ là Bạch Hổ, năm Sửu Mùi là Quỷ Tặc, năm Thìn là Đại Mộ, năm Tuất là Tiểu Mộ, năm Dần Mão Thân Dậu là Tiểu Thông, năm Hợi Tý là Đại Thông vậy.
Khởi Tháng với Năm như nhau, hợp tháng Đại Thông Tiểu Thông, không hợp tháng Đại Mộ Tiểu Mộ, như tuyển trạch tu tạo bao lâu không dùng nó, đang còn lưu dùng chiếu theo sách cổ.

#35

Quách Ngọc Bội



 

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29092 thanks
  • LocationThảo Nguyên

 

Gửi vào 24/04/2018 - 22:38

Nam N cu cung

Thượng Nguyên Giáp Tý nam khởi cung 7, nữ khởi cung 5; Trung Nguyên Giáp Tý nam khởi cung 1, nữ khởi cung 2; Hạ Nguyên Giáp Tý nam khởi cung 4, nữ khởi cung 8; nam thuận nữ nghịch, nam cung 5 thì gửi ở cung 2, nữ cung 5 thì gửi cung 8. Nay lấy định lệ của Tam Nguyên Cửu Tinh mà suy, thì cái khởi Đoài 7, chính là dưới đó không thể không là Thượng Nguyên vậy, cái mà khởi Khảm 1, chính là Thượng Nguyên không phải là Trung Nguyên vậy, cái mà khởi Tốn 4, chính là Trung Nguyên chẳng phải Hạ Nguyên vậy, không biết truyền lại từ khi nào. Nay các Âm Dương Gia dùng làm cái dụng hợp hôn, chẳng có lý giải, đến nỗi dùng Trung 5 phối cái 2 8, thì do các thuyết của Khôn Cấn thuộc Thổ vậy.


Hết quyển 2



Thanked by 1 Member:

#36

Quách Ngọc Bội



 

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29092 thanks
  • LocationThảo Nguyên

 

Gửi vào 24/04/2018 - 23:03

Ng định Tinh Lch Kho Nguyên - Quyn Tam


Nguyt s cát thn



Thiên Đạo

"Càn Khôn Bảo Điển" viết: "Cái Thiên Đạo ấy, cái Dương ban sơ của trời, chỗ thuận lý vậy. Chỗ của nó hợp khởi tạo đề cử các sự việc công chúng, hướng về là thượng cát".

"Quảng Thánh Lịch" viết: "Thiên Đạo, tháng Giêng tháng 9 tại phương Nam; tháng 2 tại phương Tây Nam; tháng 3 tháng 7 tại phương Bắc; tháng 4 tháng 12 tại phương Tây; tháng 5 tại phương Tây Bắc; tháng 6 tháng 10 tại phương Đông; tháng 8 tại phương Đông Bắc; tháng 11 tại phương Đông Nam vậy".

Đối chiếu: Thiên Đạo ấy, phương sở tại của Thiên Đức vậy. Ý nghĩa xem tiết bên dưới.


Thiên Đức

"Càn Khôn Bảo Điển" viết: "Thiên Đức ấy, phúc đức của trời vậy. Chỗ của nó quản lý, ngày của nó trực, có thể động thổ, dựng cung thất".

"Kham Dư Kinh" viết: "Thiên Đức ấy, tháng Giêng Đinh, tháng Hai Khôn, tháng Ba Nhâm, tháng Tư Tân, tháng Năm Càn, tháng sáu Giáp, tháng Bảy Quý, tháng Tám Cấn, tháng Chín Bính, tháng Mười Ất, tháng Một (11) Tốn, tháng Chạp Canh".

Tào Chấn Khuê viết: "Bốn tháng Mạnh, lấy Can Âm làm cái Thiên Đức, chính là thiên đạo tạo thuận lợi cho cái của nó chưa sinh ra vậy. Tháng Giêng Bính hỏa sinh, mà Đinh hỏa chưa sinh; tháng Tư Canh kim sinh, mà Tân kim chưa sinh; tháng Bảy Nhâm thủy sinh, mà Quý thủy chưa sinh; tháng Mười Giáp mộc sinh, mà Ất mộc chưa sinh; cho nên lấy Can Âm làm Đức vậy. Bốn tháng Quý, lấy Can Dương làm cái Thiên Đức, chính là thiên đạo tạo thuận lợi cho cái của nó tự mộ vậy. Tháng Ba Nhâm thủy Mộ, tháng Sáu Giáp mộc Mộ, tháng Chín Bính hỏa Mộ, tháng Chạp Canh kim Mộ, cho nên Can Dương làm Đức vậy. Bốn tháng Trọng, lấy các Quái ở Tứ Duy làm cái Đức, chính là thiên đạo tạo thuận lợi biến hóa thành công vậy. Tháng Hai vạn vật tương sinh, tập trung phục vụ ở Khôn vậy; tháng Năm âm khí tương sinh, Càn đạo biến hóa vậy; tháng Tám vạn vật sắp thâu tàng, thành lời ở Cấn vậy; tháng Một (11) âm khí tán, dương khí nhập Tốn vậy, gió vì thế tan đi vậy".

Đối chiếu: Thiên Đức ấy, khí của Tam Hợp vậy. Như Nguyệt Kiến Giêng, Năm, Chín, Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa Cục, cho nên lấy Hỏa làm Đức. Tháng Giêng Đinh, tháng Chín Bính, tháng Năm Càn, Tuất hỏa Mộ tại Càn cung vậy. Nguyệt Kiến Hai, Sáu, Mười, Mão Mùi Hợi hợp Mộc Cục, cho nên lấy Mộc làm Đức, tháng Sáu Giáp, tháng Mười Ất, tháng Hai Khôn, Mùi mộc Mộ tại cung Khôn vậy. Nguyệt Kiến Ba, Bảy, Một (11), Thìn Thân Tý hợp Thủy Cục, cho nên lấy Thủy làm Đức vậy, tháng Ba Nhâm, tháng Bảy Quý, tháng Một (11) Tốn, Thìn thủy Mộ tại cung Tốn vậy. Nguyệt Kiến Tư, Tám, Chạp, Tị Dậu Sửu hợp Kim Cục, cho nên lấy Kim làm Đức, tháng Tư Tân, tháng Chạp Canh, tháng Tám Cấn, Sửu kim Mộ tại Cấn cung vậy. Các tháng Dần Thân Tị Hợi, chính là vị trí ngũ hành Trường Sinh, cho nên phối Can Âm; Thìn Tuất Sửu Mùi chính là chỗ ngũ hành Mộ Khố, cho nên phối Can Dương; Tý Ngọ Mão Dậu chính là chỗ ngũ hành đương vượng, cho nên phải phối Mộ thần, không dùng quái của bản cung, mà dùng Can ấy, vì Chi là Đất vậy, Can là Trời vậy, danh gọi là Thiên Đức, cho nên dùng Thiên Can. Lại dùng 4 quái nhằm đại diện Thìn Tuất Sửu Mùi ấy mà không dùng Địa Chi, cho nên mới thế.

Thanked by 1 Member:

#37

Quách Ngọc Bội



 

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29092 thanks
  • LocationThảo Nguyên

 

Gửi vào 25/04/2018 - 17:44

Nguyệt Đức

"Thiên Bảo Lịch" viết: "Nguyệt Đức ấy, là đức thần của tháng vậy. Chọn đất, xây doanh, hợp hướng về phương của nó, yến nhạc, thượng quan, lợi dùng cái ngày của nó".

"Lịch Lệ" viết: "Nguyệt Đức ấy, tháng Giêng Năm Chín tại Bính, tháng Hai Sáu Mười tại Giáp, tháng Ba, Bảy Một (11) tại Nhâm, tháng Tư Tám Chạp tại Canh".

Tào Chấn Khuê viết: "Nguyệt Đức ấy, dương đức của trong tháng vậy. Cho nên Can là tôn, Chi là ti, chính là tôi thần cầu cái đức của vua vậy. Lấy tam hợp ngũ hành dương can làm Đức. Giả như lệnh tam hợp Dần Ngọ Tuất là Hỏa, lấy Bính làm Đức, chính là đều mong Can tự vượng làm ứng, trợ vậy. Ngoài ra cứ phỏng theo đó".


Thiên Đức Hợp

"Thiên Bảo Lịch" viết: "Thiên Đức Hợp ấy, thần của hợp đức vậy. Nơi nó quản lý, thích hợp dựng doanh, tạo cung thất, sửa xây thành trì, ngày của nó trực thì thích hợp gia ân, ban thưởng, đặc xá, tướng lệnh xuất quân, cầu lễ núi sông, cầu xin phúc nguyện".

"Lịch Lệ" viết: "Thiên Đức Hợp ấy, tháng Giêng Nhâm, tháng Ba Đinh, tháng Tư Bính, tháng Sáu Kỷ, tháng Bảy Mậu, tháng Chín Tân, tháng Mười Canh, tháng Chạp Ất vậy. Các tháng tứ Trọng thì Thiên Đức cư ở Tứ Duy, cho nên không Hợp vậy".

Đối chiếu: Thiên Đức, Hợp ấy. Tức là đều lấy tháng của chúng, và Can sở hợp của Thiên Đức mà thành.


Nguyệt Đức Hợp

"Ngũ Hành Luận" viết: "Nguyệt Đức Hợp ấy, dấu hiệu tinh hoa (tinh phù) của ngũ hành vậy. Hội, làm hợp vậy. Chỗ của nó quản lý, các điều ác đều tiêu tán, ngày của nó trực, bách phúc cùng tụ hội, lợi dùng xuất quân, lệnh tướng, thượng sắc, thụ phong, cúng tế, trông sao, xây dựng cung thất".

"Lịch Lệ" viết: "Nguyệt Đức Hợp ấy. Các tháng Giêng Năm Chín tại Tân; các tháng Hai Sáu Mười tại Kỷ; các tháng Ba Bảy Một (11) tại Đinh; các tháng Tư Tám Chạp tại Ất".

Đối chiếu: Nguyệt Đức, Hợp ấy. Tức là đều lấy Can sở hợp của Nguyệt Đức mà thành.

Thanked by 4 Members:





Similar Topics Collapse

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |