Jump to content

Advertisements




(Phi Tinh) Tử Vi Đẩu Số - Phân tích Mệnh Vận

Từ Tăng Sinh Phi Tinh Đẩu Số Phi Tinh phái Tứ Hóa Phi Tinh

53 replies to this topic

#1 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 12:13

Tử Vi Đẩu Số - Phân tích Mệnh Vận


Tác giả: Từ Tăng Sinh
Dịch giả: Thiên Hỏa Đồng Nhân hội (Hoàng Đình Đạo, Phạm Thanh Sơn, Huỳnh Trung Thuận, Trung Lufu, Diệp Khải Nguyên, Chiến Nguyễn)
Hiệu đính: Quách Ngọc Bội, Linh Chi.



LỜI NÓI ĐẦU


Từ năm Dân Quốc thứ 74, tôi ở Đài Loan viết chuyên mục “Tự xem Tử Vi Đẩu Số” trên nguyệt san Gia Đình, đến nay đã được 16 năm, có rất nhiều độc giả gửi thư đến hỏi về vận mệnh và đều vẫn đang giữ mối quan hệ tốt đẹp với nhau, điều đó càng khiến cho tôi vững tin hơn để đi sâu vào nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số. Trong cuốn sách này có một ví dụ luận mệnh mà nhân vật chính có thể đối chiếu mười phần xác thực (Mọi người chắc cũng biết ví dụ luận mệnh đó là nói về ai rồi chứ?), có rất nhiều bạn bè của tôi trong giới mệnh lý cũng từng thông qua việc viết sách hoặc tạp chí, dùng các thuật đoán mệnh như Tử Vi Đẩu Số, Tứ Trụ, Tính Danh Học… để thảo luận về vận trình của người đó sau khi ra tù thì sẽ phát triển như thế nào? Đa số mọi người đều tỏ thái độ lạc quan, cho rằng khi người ấy ra tù sẽ được gia tộc giúp đỡ để mà Đông Sơn tái khởi (nghĩa là: đây là thành ngữ chỉ sự hưng phục lại thanh thế lẫy lừng đã từng có). Khi đó, trong một bài viết xuất bản công khai năm Dân Quốc thứ 75, tôi đã từng nói lên quan điểm ngược lại hoàn toàn với họ, ấy là "Chết trong tù". Sau đó vào tháng 4 năm Dân Quốc thứ 76 thì dự báo đó đã ứng nghiệm thật, thành thử người ta đến chơi và phỏng vấn liên miên không ngớt, làm cho sinh hoạt cá nhân bị ảnh hưởng rất lớn, buộc phải chuyển nhà đồng thời hạn chế tiếp khách để chuyên tâm sự nghiệp. Bây giờ mới rảnh rỗi một chút, liền muốn đem tâm huyết của mình mà viết ra để chỉ lối cho những người mới bước chân vào thế giới của Tử Vi Đẩu Số. Tôi hết sức chú ý đến sự suy diễn giữa lý luận với thực tiễn, bạn đọc chỉ cần dựa theo từng bước rồi nghiễn ngẫm từ từ, nhất định sẽ đạt được cảnh giới tự học tự khai thông.

Cuốn sách này phù hợp cho những bạn đọc nào nghiên cứu nhằm hiểu rõ về sự biến ảo khôn lường của mệnh vận cá nhân. Số phận vốn là một thể hoàn chỉnh, không bị biến đổi liên tiếp hay là lịch trình thăng trầm không có quy luật, cho nên cần dựa vào nhiều đại lượng biến thiên, thông qua sự phân tích sàng lọc nhiều tầng có thứ tự lớp lang, thì có thể lần ra cái đầu mối sợi tơ, từ trong cái mông lung mà nắm bắt được sự kiện với hình tượng hoàn chỉnh, mà hiểu rõ được số phận cá nhân. Bởi vậy, cơ cấu suy luận của Tử Vi Đẩu Số cũng cần phải đem các loại đại lượng biến thiên mà nạp vào trong sự khảo xét. Chỉ có điều nó không giống như phép tính toán học thông thường là đem dùng các ký hiệu X, Y để đại diện cho các đại lượng biến thiên, mà Đẩu Số dùng các ký hiệu [Thiên Can – Địa Chi – Tinh Diệu]. Hơn nữa, phương pháp suy luận ký hiệu của khoa học phương Tây mà chúng ta đã quen dùng cũng hoàn toàn khác, đối với những cái ta đã nắm rõ về kiến thức khoa học phương Tây thì thách thức lớn nhất là làm thế nào để tận dụng kiến thức hiện đại mà lý giải những bí ẩn Tử Vi Đẩu Số của cổ nhân để lại.

Chúng ta "Nghĩ" như thế nào thì nó sẽ ảnh hưởng tới Góc độ nhìn nhận của chúng ta về một sự việc như thế, theo đó mà nó quyết định Bộ khung hành xử của chúng ta đối với sự việc ấy. Tương tự thì Mệnh lý học cũng là một môn tri thức, nhưng mọi người lại nhìn nhận nó với các khung khảo xét khác nhau. Giống như trong nhóm người đang học về Mệnh lý, do điểm xuất phát không giống nhau nên sẽ dẫn đến cái khung suy luận về nội hàm cấu trúc của Tử Vi Đẩu Số cũng không giống nhau. Vì thế, Tử Vi Đẩu Số chia thành các trường phái mà tranh luận với nhau không ngớt. Thà chẳng tranh luận mà hãy nghiệm chứng còn hơn, vì "Kiểm nghiệm là chân lí duy nhất", có thể thông qua kết quả nghiệm chứng thì khỏi cần cãi nhau nữa. Hy vọng rằng những người có kiến thức sẽ đi vào nghiên cứu, xây dựng một hệ thống lí luận hoàn chỉnh, tạo thành cột mốc của những người nghiên cứu mai sau. Cuốn sách này được đặt tên là "Tử Vi Đẩu Số - mệnh vận phân tích" nhằm đại diện cho kỳ vọng của bản thân tôi, còn tôi thì tài hèn sức mọn, kiến thức vẫn chưa đủ, nên nếu có điểm nào chưa hoàn thiện thì kính mong những bậc tài đức đừng ngại góp ý chỉ giáo.

Nói chung, về một môn học thuật hoặc về tư tưởng của một cá nhân, thì không thể nào nói hết được qua một cuốn sách nho nhỏ. Quyển sách này chỉ là những thứ tâm đắc mà tôi lĩnh hội được trong quá trình hơn 20 năm nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, sử dụng tư duy con người thời đại ngày nay, với quan điểm khoa học để giải thích những bí mật cổ xưa của huyền học. Nội dung của sách này bao gồm Lý luận, Sự việc thực tế, Các ví dụ thực tế tham khảo,… trong đó chỉ có một vài trích dẫn các kiến giải của các bậc tiên hiền cổ thánh, nếu như ai muốn đi sâu vào để biết những kinh nghiệm luận mệnh của các bậc tiên hiền thì có thể tham khảo ở các cuốn khác có liên quan tại các tiệm sách.

Do tính chất công vệc mà tôi từng đảm nhiệm, đã được tiếp xúc với nhiều ông chủ thành đạt và cá nhân tôi cũng nhờ sự thuận tiện của công việc mà sử dụng Tử Vi Đẩu Số để xem qua cho các ông chủ, thực sự là trong số đó thì vận trình thăng trầm hầu hết đều phù hợp với kết quả suy tính của Đẩu Số. Cũng vì việc suy đoán không vụ lợi của tôi, cho nên tất cả mọi người cũng thật thà bày tỏ hết về nguyên nhân và hậu quả của sự việc, để tạo thành rất nhiều ví dụ luận mệnh hoàn chỉnh. Lại vì, từ trong số đó mà thống kê, rồi tổng kết để đưa ra rất nhiều quy luật phép tắc, mới phát hiện được sự huyền bí trong Tử Vi Đẩu Số. Nhớ lại hồi xưa, bỏ tiền mua sách tự học hoặc đi bái sư học nghệ, ông thầy có nói là giữa nguyên lý và sự việc thực tế luôn luôn có một khoảng cách nhất định, mà trong đó vấn đề mấu chốt chính là ở chỗ còn thiếu sự rèn luyện thực chiến. Cho nên cuốn sách này cố gắng tập trung vào ví dụ ứng nghiệm thực tế để đối chứng với lý luận của quyển sách. Hy vọng độc giả có thể nhờ quyển sách mà học được lý luận chính xác về Đẩu Số và đoán được mệnh thực tế.

Có thể các bạn sẽ nói rằng, “Chẳng phải đã có rất nhiều các sách tham khảo về các ví dụ thực tế rồi đó sao? Mua để nghiên cứu cũng không được à.” Không được! Nhất định không được nghĩ đơn giản như vậy. Thị trường sách hiện tại luôn luôn bỏ sót vài chỗ trong việc ghi chép lại sự kiện. Ví dụ như việc kết hôn, thì kiểu ghi chép phổ biến nhất là tuổi nào đó kết hôn. Cách ghi chép này đối với quy tắc suy luận của Tử Vi Đẩu Số chẳng giúp được mấy, bởi vì nó không ghi lại nguyên nhân thúc đẩy kết hôn là gì, làm cho đến lúc cần nghiên cứu quy tắc suy luận trong Tử Vi Đẩu Số, lại vẫn không biết suy luận về mối quan hệ tác động qua lại giữa các dấu hiệu. Cho nên người mới học cần phải ghi tỉ mỉ từ nguyên nhân đến kết quả của các sự việc thì mới có thể gọi là "Ghi lại kỹ càng sự kiện, đó là bước thành công đầu tiên trong việc học Tử Vi Đẩu Số."

Đối với những người mới học, tôi cũng đề nghị nên nghiên cứu nhiều ví dụ nhân mệnh, bởi vì lá số có hàng vạn loại tổ hợp, trong khi đời người thì muôn màu muôn vẻ không thể thấy được hết. Do đó mà các bạn chưa biết suy luận như thế nào, nên chỉ có xem thật nhiều ví dụ nhân mệnh mới có thể xác định được hướng đi các sự kiện. Theo đó để căn cứ vào các quy tắc suy luận mà giải thích sự kiện, đây là quá trình tốn rất nhiều thời gian. Tôi biết rõ kỹ năng tổ chức học tập, mọi người cần thảo luận qua lại, học hỏi lẫn nhau, mới có thể tạo lập nhiều mối quan hệ định hướng các sự kiện, những điểm này được coi là bí mật nên dù có thầy dạy cũng chưa chắc đã được truyền. Cho nên quý vị đừng ngại thu thập nhiều ví dụ nhân mệnh, tự tạo nên các bí quyết lập hướng của riêng bản thân, có thể đạt tới mức "Lập Hướng" là biểu hiện đã thành công trong việc đi vào cung điện của Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số rồi đó.

Rất hoan nghênh những ý kiến đóng góp của mọi người, email của tôi: ericshyu@ms2hinet.net hoặc ziwi88@hotmail.com.

***


MỤC LỤC


CHƯƠNG 0: LÀM CÁCH NÀO ĐỂ HỌC TỐT TỬ VI ĐẨU SỐ
CHƯƠNG 1: ĐI VÀO NHẬN THỨC TỬ VI ĐẨU SỐ
CHƯƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TỬ VI ĐẨU SỐ MỆNH LÍ HỌC
CHƯƠNG 3: NHẬN THỨC MỆNH BÀN VÀ 12 CUNG NHÂN SỰ
CHƯƠNG 4: GIẢI THÍCH NHẬN THỨC CƠ BẢN CỦA BÍ MẬT MỆNH BÀN
CHƯƠNG 5: MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ TÍNH CON NGƯỜI VỚI CÁC CUNG VỊ
CHƯƠNG 6: LẬP HƯỚNG LÀ GÌ?
CHƯƠNG 7: DẤU HIỆU ĐẨU SỐ VÀ SỰ KIỆN NHÂN SINH
CHƯƠNG 8: QUAN HỆ ĐỐI ĐÃI CỦA LỤC THÂN
CHƯƠNG 9: NGŨ HÀNH VÀ TÍNH MIẾU HÃM LỢI VƯỢNG CỦA CÁC SAO
CHƯƠNG MƯỜI: TỔ HỢP SAO ẢNH HƯỞNG TỚI VẬN THẾ
CHƯƠNG MƯỜI MỘT: GIẢI THÍCH VỀ CÁCH CỤC
1. Tử Phủ đồng cung
2. Phủ Tướng triều viên
3. Tử Phủ triều viên
4. Minh châu xuất hải
5. Nhật Nguyệt tịnh minh
6. Nhật chiếu lôi môn
7. Nguyệt lãng thiên môn
8. Cự Cơ đồng lâm
9. Cơ Nguyệt Đồng Lương
10. Thạch trung ẩn ngọc
11. Nhật lệ trung thiên
12. Cự Nhật đồng cung
13. Nguyệt sinh thương hải
14. Nhật Nguyệt chiếu bích
15. Tham Vũ đồng hành
16. Nhật Nguyệt giáp Mệnh
17. Anh tinh nhập miếu
18. Thất Sát triều đẩu
19. Mã đầu đới tiễn
20. Tam Kỳ gia hội
21. Hùng tú triều viên
22. Lộc hợp uyên ương
23. Song Lộc triều viên
24. Lộc Mã giao trì
25. Tả Hữu đồng cung
26. Tọa Quý hướng Quý
27. Văn quế Văn hoa
28. Mệnh Vô chính diệu.
CHƯƠNG 12: QUAN HỆ GIỮA THIÊN CAN VÀ TỨ HÓA TINH
CHƯƠNG 13: TỨ HÓA NHẬP MÔN
CHƯƠNG THỨ 14: ỨNG DỤNG CỦA TỨ HÓA
CHƯƠNG 15: Ý NGHĨA CỦA HÓA KỊ
CHƯƠNG 16: VẬN THẾ LƯU CHUYỂN
CHƯƠNG 17: SỰ KHÁC NHAU CỦA HÓA XUẤT VÀ HÓA NHẬP
Từ ngã cung (cung của mình) phi xuất Tứ Hóa
Từ tha cung (cung của người khác) phi xuất Tứ Hóa
CHƯƠNG 18: QUAN NIỆM VỀ “THIÊN - ĐỊA – NHÂN”
CHƯƠNG 19: ẢNH HƯỞNG CỦA TỨ HÓA ĐỐI VỚI VẬN THẾ
- Ví dụ 1
- Ví dụ 2
CHƯƠNG 20: CÂN BẰNG CỦA MỆNH CỤC ĐẨU SỐ
CHƯƠNG 21: GIẢI LÁ SỐ NHƯ THẾ NÀO
CHƯƠNG 22: THUYẾT KHÍ VẬN LƯU CHUYỂN
CHƯƠNG 23: GÓC ĐỘ TẠO THÀNH MỆNH HẠN HÓA KỊ
CHƯƠNG 24: BÀN LUẬN VỀ THỜI GIAN ỨNG NGHIỆM SỰ KIỆN
CHƯƠNG 25: GIẢI VÍ DỤ VẬN DỤNG LINH HOẠT TỨ HÓA PHI TINH
Giải thích về quy tắc Tứ Hóa tinh khi đến cung
Hàm ý của 10 Thiên Can Tứ Hóa tinh
Giải thích về quy tắc linh động của Tứ Hóa trong Đại Hạn
Ví dụ giải đoán về cách dụng linh động Tứ Hóa phi tinh
Lời kết.
CHƯƠNG 26: XEM SỰ NGHIỆP PHÙ HỢP THEO TÍNH CHẤT CÁC SAO
CHƯƠNG 27: TỪ MỆNH BÀN XEM VẬN GÂY DỰNG SỰ NGHIỆP
CHƯƠNG 28: ẢNH HƯỞNG CỦA 12 CUNG ĐỐI VỚI TÀI VẬN VÀ SỰ NGHIỆP
CHƯƠNG 29: SUY ĐOÁN VỀ SÓNG GIÓ CỦA HÔN NHÂN
CHƯƠNG 30: LÀM SAO ĐỂ SUY ĐOÁN NĂM NÀO PHÙ HỢP ĐỂ KẾT HÔN
CHƯƠNG 31: LÀM SAO ĐỂ SUY ĐOÁN VẬN LƯU NIÊN
Suy diễn Quốc vận
Lưu Niên giao hữu vận
Khi mà Hóa Kị xung Mệnh hoặc Phu Thê cung thì nên chú ý sự việc gì
Lưu Niên sự nghiệp vận
Lưu Niên tài bạch vận
Vận kết hôn năm nay sẽ thế nào
CHƯƠNG 32: ĐỒ THỊ MỆNH VẬN
CHƯƠNG 33: LỜI KẾT CHO CUỐN SÁCH.

***


CHƯƠNG 0: LÀM CÁCH NÀO ĐỂ HỌC TỐT TỬ VI ĐẨU SỐ


Đẩu Số dễ học nhưng khó tinh thông, có thể nói rằng đây là nỗi lòng của cộng đồng người mới học, đến nỗi tạo ra cảnh có đầy rẫy bí kíp rợp trời ngoài thị trường nhưng có giá bán quá đắt, dẫu mua được bí kíp mà không trải qua nghiệm chứng thì cũng hoàn toàn vô dụng. Hãy ngẫm lại trước đây, nếu như được thử một lần xem qua cuốn Bách Linh bí tịch thì sẽ thấy việc vận dụng nó đâu có đơn giản?

Do đó, nguyên tắc đầu tiên cần xác định là “Đã học Tử Vi Đẩu Số thì đừng hòng đốt cháy giai đoạn”.
Có khoảng 520.000 tổ hợp lá số, cùng với sinh mệnh kéo dài đến cả trăm năm, nên vô phương khi định đem tất cả con số ấy để bày ra mà xét từng cái một. Thêm vào đó là con số các hiện tượng đời người cũng lên đến hàng vạn kiểu, thì một cái mệnh bàn cỏn con làm sao để bao quát toàn bộ nhân sinh bao la vạn tượng. Chỉ có cách là đi nghiệm chứng không ngừng các tổ hợp Tinh Đẩu, Hóa Diệu, Cung Vị, Phi tinh Tứ Hóa trong các loại tình huống. Sau đó, sử dụng năng lực của các phép loại suy, phép diễn dịch, phép quy nạp để thành lập các loại tư liệu về quy tắc Tứ Hóa Phi Tinh, tính chất ý nghĩa các sao, ý nghĩa hình tượng của chúng (gọi tắt ý tượng), mới có thể phân tách lý giải cho từng lá số cụ thể. Đọc xong cuốn sách này sẽ đem cho bạn đường lối chính xác để học Tử Vi Đẩu Số, không giống như thuyền đi giữa biển lớn, mờ mịt không biết đầu mối và phương hướng.

Nguyên tắc thứ hai, “Cần phải phân biệt rõ Thật - Giả, Hư – Thực”.
Các môn phái của Tử Vi Đẩu Số hiện nay gồm: Thấu phái, Chiêm nghiệm phái, Tứ hóa Phi tinh phái, Quá cung phái, Tiểu hạn phái, Côn Luân phái, Lạc Dương phái,... Mỗi môn phái đều có quy tắc luận mệnh riêng, không hoàn toàn giống nhau, có phái thì xem Tiểu Hạn chứ không xem Lưu Niên, có phái dùng Lưu Niên phi tinh, có phái chỉ chuyên xem Tổ hợp sao mà không luận đến Tứ Hóa,... Mỗi môn phái đều có luận điệu riêng, nếu như có một phái sai lầm, mà ta cứ cắm đầu đi vào, đến cuối mới biết đó là ngõ cụt, quay lại thì đã mất nhiều thời gian và tiền bạc, thực là lợi bất cập hại.

Phương pháp khảo nghiệm đơn giản nhất vẫn là dùng chính lá số Tử Vi của mình để nghiệm chứng. Nếu thấy chuẩn thì chứng tỏ cái lý luận đó vững chắc, nếu thấy không chuẩn thì cho dù tác giả đó viết hơn chục cuốn sách chuyên về Tử Vi Đẩu Số luận mệnh thì ta cũng không cần tốn tiền mua sách của tác giả đó mà lãng phí thời gian của mình. Nếu những ai đã là chuyên gia Đẩu Số luận đoán chuẩn xác như thần, thì nhất định người ấy sẽ bị mất sạch thời gian vì có nhiều người đến nhà viếng thăm và nhờ vả, chứ làm gì mà có thời gian để mà viết đến cả chục cuốn sách chuyên ngành như thế.

Lại còn có kiểu người viết sách chỉ sử dụng tên giả, mà trong sách ghi một đống chữ, đại loại như "Sư phụ của ta.... thế này thế nọ, cái lọ cái chai..." hay "Ngoài đời trong các Đẩu Số kỳ nhân... cái này cái kia, cái chai cái lọ....". Các loại như trên, đều để ngỏ sẵn cho mình một đường rút lui, dùng một cái tên che dấu thân phận, sau đó lại đổi sang cái tên khác để thay phiên lên thị trường sách, kỳ thực phía sau cũng chỉ là một người, cổ nhân nói "Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri" (nghĩa là: Việc viết sách cả ngàn đời nay, Kiến thức trong đó cái hay cái dở thì 1 tấc lòng cũng rõ"). Khi các bố ấy đã nêu khẩu hiệu kiểu trang nghiêm thần thánh là: dùng việc viết sách để đứng trên đời và đem năng lực với kết tinh tâm huyết của mình mà viết ra, để cho những người có chung sở thích trong thiên hạ cùng được nhờ,… Với riêng cơ sở lý luận nghiên cứu của môn Đẩu Số mà nói là rất tuyệt vời đấy, được như thế thì sẽ tạo ra hàng loạt tiên tri cụ thể với những kiến giải độc đáo. Đã tốt như vậy thì hà cớ gì mà các bố ấy lại không dám ghi cụ thể tên thật,... cái nguyên nhân ẩn chứa bên trong đó, mời quý vị cứ suy ngẫm kỹ đi sẽ rõ!

Nguyên tắc thứ 3 “Sử dụng linh hoạt các ví dụ luận mệnh, phân loại và quy nạp để xây dựng quy tắc”.
Nhất định phải làm ngay 1 cuốn sổ nhật ký luận mệnh, thiết lập giống như cấu trúc cuốn hồ sơ bệnh lý của bệnh viện vậy, đem những "Việc thực" đã xảy ra mà ghi chép lại để sau này nghiên cứu. Sử dụng linh hoạt việc quản lý số liệu, phương pháp phân tích quy nạp lại rồi lại diễn dịch ra quy tắc xem mệnh, thông qua nghiệm chứng để tạo thành bộ quy tắc, mới có thể nắm được đạo lý phân tích mệnh bàn, từ các dữ kiện chẳng đầu chẳng đuôi mà lại suy luận thành mối quan hệ có đầu có cuối.

Đương nhiên việc thiết lập số liệu nhất định cần phải hoàn chỉnh các yếu tố như bên dưới đây:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Như: Năm A tháng B phát sinh tai nạn xe cộ mà bỏ mạng, và năm A tháng B đó vì nguyên nhân đi liên hoan chia tay bạn bè, uống rượu say mà lại lái xe rồi đâm vào cột điện, bị trọng thương ở đầu nên tử vong.
Đó là cách ghi lại 2 loại "Sự kiện", đương nhiên phương thức của người sau này lại càng tỉ mỉ rõ ràng hơn, ở trên lá số (mệnh bàn) liền có thể căn cứ vào các yếu tố “Bạn bè”, “say rượu”, “cột điện”, “cái đầu”, “tử vong” để truy xét các mối quan hệ tương ứng với “Cung Vị”, “Tổ hợp các Sao”, “Tứ Hóa” mà thiết lập mối quan hệ tương ứng giữa [Các dấu hiệu trên mệnh bàn & Sự kiện đời người].

Nguyên tắc thứ 4, “Có mệnh là xem, không ngại thử nghiệm, làm không biết mệt”.
Đã dấn thân vào nghiên cứu Đẩu Số, thì không cần sợ người ta châm biếm là "Thầy bói", cứ có mệnh là bói, đồng thời phải dũng cảm đề xuất ra dự đoán một cách cẩn trọng tỉ mỉ, đem các bộ quy tắc đã biết áp dụng vào việc xem số, trải qua sự khảo nghiệm xem thử nó có đúng hay không? Còn khi mà quy tắc không khả dụng, thì cần phải triển khai năng lực loại suy. Đoán được nhiều mệnh thì mới có thể tích lũy được nhiều kinh nghiệm, và tăng tốc độ thiết lập các quy tắc mà hoàn chỉnh nó (nhưng với điều kiện là đối phương đồng ý cung cấp đúng số liệu sự kiện, tạo điều kiện để bạn truy tầm dấu vết).

Nguyên tắc thứ 5, “Giỏi dùng các công hỗ trợ, máy tính”
Trí tuệ của con người là vô biên, nhưng cũng có chỗ hạn chế, sự hiểu biết thì tăng theo tuổi, nhưng trí nhớ lại giảm theo thời gian. Những người nghiên cứu Đẩu Số thường có những nuối tiếc về điều đó khi những quy tắc xem mệnh vốn được sinh ra từ vệc tổng kết lại từ từng sự việc, nhưng do sức ghi nhớ không tốt nên khi nhìn những mệnh bàn quen biết mà vắt óc suy nghĩ cũng không nhớ ra một quy tắc nào để mà vận dụng.

Máy tính tuy không có tư duy, nhưng nó có sức nhớ siêu việt, chỉ cần thiết lập các quy tắc đầu vào (input) là chắc chắn nó sẽ ghi nhớ. Hơn nữa tốc độ tính toán nhanh lên đến hàng chục vạn quy tắc và đối chiếu từng điều một chỉ trong vòng vài phút là xong, so với não người thì nó vừa nhanh hơn mà lại không có nhầm lẫn. Chỉ cần đem cơ sở dữ liệu và các quy tắc toán mệnh đã thiết lập thật tốt rồi phối hợp với tư duy con người để hàng ngày cập nhật các quy tắc, thì công hiệu hệ thống máy tính đoán mệnh sẽ ngày một tăng và sẽ thành một hệ thống chuyên nghiệp mà kết tinh được trí tuệ con người. Tới lúc đó thì con người có thể đem toàn tâm toàn lực để làm các việc diễn dịch quy nạp “Quy tắc đoán mệnh” có độ tư duy phức tạp cao, còn các việc có tính chất cứng nhắc như “Ghi nhớ đối chiếu” thì đã có máy tính xử lý.

Nguyên tắc thứ 6, “Sử dụng tốt năng lực tưởng tượng, liên tưởng”.
Mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên, thoạt trông có vẻ như không liên quan nhưng kỳ thực là có quan hệ rất mật thiết. Như phong thủy với đời sống con người, cách dùng Tọa & Hướng của nhà cửa "đã có lý luận khoa học", trên thực tế khó ai có thể kiểm nghiệm có những loại quan hệ ảnh hưởng tương hỗ nào giữa người và chỗ ở của họ. Chỉ có những thầy am tường phong thủy, mới có thể dựa vào lai long khứ mạch, cách cục, các yếu tố tọa hướng để phán định chỗ ở của người đó, sẽ gặp những vấn đề gì. Cho nên, đối với mệnh lý thì đừng có một mực cố chấp mà quên đi quan hệ của các cung vị, các cung đó đều có sức ảnh hưởng mang tính chất quyết định. Vì thế, việc ghi lại tỉ mỉ các yếu tố của sự kiện có thể giúp cho việc liên tưởng hoặc suy rộng ra cung vị "Lập hướng" của việc đoán mệnh. Từ đó diễn dịch, quy nạp, đưa ra quy tắc mới, sự liên tưởng càng phong phú càng làm cho năng lực lĩnh hội Đẩu Số đi tới chỗ thâm diệu.

Không nên quá phụ thuộc vào sách cổ, thông thái rởm (ám chỉ người biết đọc cái cổ xưa mà không biết chuyển hóa vận dụng vào ngày nay) chỉ giỏi bắt chước sáo rỗng theo lời phú đoán mệnh mà không biết đổi mới. Cần phải từ căn bản để hiểu rõ Tử Vi Đẩu Số mới có thể mở ra một cánh cửa sổ mà khai thác tầm nhìn mới trong học tập để đạt tới cảnh giới mới của mệnh lý Đẩu Số.

#2 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 12:57

CHƯƠNG 1: ĐI VÀO NHẬN THỨC TỬ VI ĐẨU SỐ


Thường xuyên có bạn bè hỏi tôi là tại sao phải đi học Tử Vi Đấu Số? Ngụ ý rằng "Thời đại khoa học rồi, sao lại đi học mấy trò đoán số mệnh nữa nhỉ!" Thực ra thì cũng như đại đa số người tân tiến mới bước chân vào xã hội, lúc tôi còn trẻ cũng có nhiều hoài bão và kế hoạch to lớn lớn về tương lai, kiếm rất nhiều công việc nhưng không phù hợp sở thích nên không thể phát huy năng lực, thành ra phải thay đổi nhiều nghề khác nhau. Nhưng trở lực liên tục, ban đầu đối với tương lai có sự hoài nghi muốn tìm kiếm đáp án, lúc bấy giờ có một người bạn thân giới thiệu cho tôi đi xem số mệnh, nhưng tôi từ nhỏ coi trọng khoa học và bài trừ mê tín, tư tưởng khoa học mênh mông đã mọc rễ trong não nên thẳng thừng bác bỏ bói toán, vì thế đối với đề xuất đi xem bói để hỏi về vận trình số phận thì tôi đã đã cười nhạt bỏ qua.

Hơn nửa năm sau, vẫn cảm thấy khó khăn, hậm hực không vui. Thôi được rồi! dù sao thì cũng đã trải qua các công việc chẳng thú vị và cũng đã hao tổn không ít thời gian. Mất một ít tiền để xem bói, tham khảo thêm một chút cũng không sao. Nghĩ vậy liền đột nhiên xin nghỉ phép 1 ngày để tránh việc người bạn kia có thể mật báo cho mấy lão thầy bói, và đi thẳng tới chỗ thầy bói xin thỉnh giáo.

Ngày sinh tháng đẻ vừa được đưa ra là ông thầy lập rất nhanh mệnh bàn (lá số), quan sát 1 chút rồi viết ngay lên trên mệnh bàn hàng chữ “8 tuổi”, tôi không hiểu ý tứ ông ấy thế nào, câu đầu tiên của ông thầy là hỏi "Cậu chuyển nhà lúc nào?". Từ xưa cho tới lúc đi xem bói, tôi chỉ chuyển nhà duy nhất một lần vào năm 8 tuổi. Cái ông thầy này ngay sau khi viết "8 tuổi" là chơi ngay vào vấn đề thứ 2 cũng đánh trúng tâm can luôn. Ngay lúc đó tôi cảm giác thực sự khiếp sợ! Vì sao chưa từng đề cập tới sự tình mà ông thầy có thể thông qua mệnh bàn để suy luận ra? Dù trong lòng vẫn còn hãi nhưng mà bán tín bán nghi, mới liền nhờ ông thầy suy đoán cho những thời điểm làm việc lớn trong tương lai để ghi chép lại, dùng làm nghiệm chứng sau này. Ông thầy chỉ đoán một vài sự kiện mà thôi, và sau đó đều ứng nghiệm cả. Lúc ấy ông thầy còn giới thiệu cho tôi 1 cuốn sách nhập môn là "Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư" của Trúc Lâm thư cục xuất bản, và muốn tôi lúc về thì nên đọc.

Bắt đầu từ đó tôi nảy sinh lòng hiếu kỳ muốn tham khảo cái huyền bí của Tử Vi Đẩu Số, rốt cuộc mệnh bàn ẩn chứa bí mật gì có thể nhìn thấu số phận của con người. Thời ấy tôi chỉ xem cuốn nhập môn của Đẩu Số mà thôi, chỉ biết dùng tổ hợp tinh diệu 12 cung để luận mệnh mà thôi, khoảng cách tới việc luận đoán chuẩn như thần còn xa vời vợi. Thế nhưng lòng hiếu kỳ muốn sáng tỏ bí mật thôi thúc, lại thêm được lão sư hướng dẫn tôi từng bước từng bước đi vào lĩnh vực nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Rốt cục là tại sao lão sư lại có những cái suy đoán chuẩn xác như thần vậy nhỉ? Mạn phép người thầy của tôi, vì thầy đã khuất núi gần 12 năm rồi, mà lời nói còn vẫn như văng vẳng đâu đây, tôi xin lấy ví dụ để chia sẻ:

Thí dụ 1: Một ông chủ hiệu chụp ảnh, lúc trước khi gả con gái đã đến hỏi về vận trình tương lai sau khi kết hôn có hạnh phúc không. Khi chờ lão sư lập mệnh bàn của con gái của ông ấy xong, chỉ nghĩ là lão sư sẽ giảng về việc sau hôn nhân sẽ như thế này thế kia, ai dè đâu lão sư nói câu đầu tiên chính là "Con gái một khi đã gả đi rồi, thì bà mẹ chồng trong vòng 3 tháng sẽ qua đời". Những người đến hỏi số đều giật nảy mình, nhận xét của ông chủ hiệu ảnh và những người đang có mặt ở đó cùng như nhau là "Tại sao có thể như thế?", con gái đi lấy chồng và sự sống chết của mẹ chồng có sự liên quan như thế nào đến nhau? Vì sao mẹ chồng cô ấy sẽ chết trong vòng 3 tháng sau khi cô ấy được gả về? Nói xằng nói bậy chăng? Bởi theo sự tình thông thường mà suy luận, thì nghĩ kiểu gì cũng không thể lôi kéo 2 sự việc vào cùng với nhau được. Lão sư dựa vào cái gì mà buông lời đoán không thể tưởng tượng nổi ấy. Lúc đó mọi người đều nhận định là không có khả năng đó! Thế nhưng mẹ chồng nàng đúng là sau đó 3 tháng thì chết, khiến tôi không khỏi sởn cả tóc gáy.

Thí dụ 2: Sau Tết âm lịch có một người bạn, bởi vì công chuyện kinh doanh của xưởng sản xuất máy dập viên không được thuận lợi, mới tìm đến lão sư để xin chỉ giáo. Lão sư vừa nhìn mệnh bàn, đã nói: "Bạn cần phải chuyển nhà, chỉ có điều phải mất đến mấy tháng mới chuyển xong". Người bạn nghĩ rằng chỉ cần có tiền thì cái việc chuyển nhà kia làm gì mà lâu như vậy, mất có chút thời gian là tìm được nhà và đặt tiền cọc xong, nghĩ thầm là lần này lão sư đã đoán sai, chỉ cần chờ nhận được giấy phép sử dụng thì sẽ chuyển tới ngay. Nào ngờ chờ mãi hơn mấy tháng sau mới nhận được điện thoại từ công ty xây dựng nói là do cái khu kiểm soát quân sự, giấy phép sử dụng không phù hợp, cho nên họ xin hoàn lại tiền cọc. Khẩn trương đi tìm nhà, thực sự đã tìm được nhà và đến lúc sửa soạn xong hết để chuyển vào thì lại phải trải qua đúng 1 khoảng thời gian như lão sư nói. Thế là lại nhanh chóng tới gặp lão sư báo cáo, ai ngờ lão sư lúc ấy nói là "Một khi bạn đã chuyển nhà thì sẽ có tiền". Việc chuyển nhà mà lại có quan hệ đến việc kiếm tiền ư! Trên đời này nào có cái chuyện ấy, chỉ thấy việc chuyển nhà thường vứt đi một ít đồ cũ nát hoặc phải mất tiền mua sắm thêm đồ mới, nào có thấy cái lý chuyển nhà mà tiền lại đến, mọi người đều bán tin bán nghi. Ngày chuyển nhà, khi mọi thiết bị đã đóng gói xong hết chỉ chờ bên công ty vận chuyển đến, lúc ấy bỗng nhiên có điện thoại reo lên, là một công ty thương mại gọi tới hỏi ông ta là có muốn nhận 1 đặt đơn hàng lớn hay không. Ông ấy báo với mùa cao điểm thì giá sẽ tương đối cao, hiện tại đang mùa thấp điểm nên giá rẻ hơn, cái công ty thương mại kia còn mặc cả giảm giá ở mùa cao điểm xuống. Dĩ nhiên cần phải đón lấy cái đơn đặt hàng lớn này, quả nhiên là kiếm được một khoản tiền, so với việc lão sư suy đoán "Một khi chuyển nhà thì tiền sẽ đến" là hoàn toàn ăn khớp.

Hai ví dụ trên rất đáng để tham khảo, Kết hôn mẹ chồng chết và Dọn nhà kiếm được tiền. Từ trên mệnh bàn Đẩu Số phải làm như thế nào để hiển hiện sự liên quan trong đó? Nếu với cách xem truyền thống thì việc dọn nhà liên quan cung Điền Trạch, còn việc kiếm tiền thì liên quan tới cung Tài Bạch. Vậy thì rốt cục dựa vào cơ chế gì về mối liên quan giữa 2 cung vị để mà phán đoán như vậy?

Đương nhiên, khi đó còn có rất nhiều bạn bè nói về những việc khác mà Chu lão sư đã tiên đoán và sau đó mọi việc đều ứng nghiệm thần kỳ, nếu như có 2 ví dụ trên đoán đúng thì có thể gọi là trùng hợp, nhưng đoán trúng liên tiếp thì không thể gọi là trùng hợp. Đặc biệt là trong lời đoán của lão sư lại nói về 2 sự kiện mà giữa chúng lại không thể giải thích được mối liên quan về vấn đề nhân quả. Lúc bấy giờ, tôi liền thay đổi hẳn cái quan điểm "Đoán mệnh là không có cơ sở khoa học" suốt gần 20 năm trước đó, để tiếp thu môn toán mệnh Tử Vi Đẩu Số, mong muốn khám phá tới cùng, để xem rốt cuộc tại sao lại như thế? (QNB chú: Chu sư phụ - tức Chu Thanh Hà - vị lão sư này là 1 cao thủ tiền bối và cũng chính là thầy dạy cho các danh thủ Đẩu Số đương thời như Tăng Quốc Hùng, Lương Nhược Du và Từ Tăng Sinh,..)

Các sách vở về Tử Vi Đẩu Số hiện nay trên thị trường, phần lớn những suy đoán vận đồ đều lấy tổ hợp các sao tọa trong cung và các sao Lưu Niên lưu tới cung ấy để phán đoán cát hung Lưu Niên. Một số ít sách vở lấy quan hệ 3 giai đoạn giữa cung vị [Mệnh gốc, Đại Hạn, Lưu Niên], từ kết cấu Tứ Hóa ở trong các giai đoạn ấy hình thành các mối quan hệ Xung Chiếu Hội Nhập, phối hợp với các tổ hợp sao dẫn động là tốt hay xấu để lựa chọn các ý nghĩa là cát hay hung, phối hợp cung vị với các ý tượng mà tinh đẩu đại biểu, hình thành một câu luận đoán có ngụ ý "Ý tượng về mức độ rõ ràng của cát hung".

Nhưng ở hai ví dụ kể trên, từ trong đó có câu đoán "Một khi bạn đã chuyển nhà thì sẽ có tiền" bao quát cả cung Điền Trạch và cung Tài Bạch của Tử Vi Đẩu Số, mà hình như là ở trong mối quan hệ 3 giai đoạn của [Mệnh gốc, Đại Hạn, Lưu Niên], cũng không chỉ giới hạn mối quan hệ một chiều dọc cho các cung vị [Mệnh gốc, Đại Hạn, Lưu niên], mà nó còn bao gồm mối quan hệ chiều ngang giữa các cung khác nhau. Bởi vì trong quá trình suy tính vận đồ, cung A của Mệnh gốc sẽ thành cung B của Đại Hạn (xem hình 1), không biết có đúng là do loại quan hệ chiều ngang này hay không, mà ở trong thuật ngữ luận đoán A kết hợp với B đạt được ý tượng kết cấu cặp cung vị chuyển hóa thành lời luận đoán. Nếu như có thể hiểu được thông tin ẩn chứa trong lời luận đoán "Một khi bạn đã chuyển nhà thì sẽ có tiền" liền đã có thể tiến tới nói rõ ra được môn Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu về không gian là khôn lường. Bởi vì ta còn chưa được thấy một loại thuật đoán mệnh nào mà có thể thần kì như thế tới mức kết hợp 2 sự vật không liên quan để tạo ra sự luận đoán chuẩn xác như thần.

Những vị sẽ mua cuốn sách này chắc chắn đã không còn là người đang luận cơ bản về cát hung 12 cung mà có thể là một tay cao thủ rồi, bởi vậy mới đưa ra những lần luận đoán thần chuẩn ở trong thời kỳ năm đó tôi còn đi theo lão sư để học hỏi, và đưa cả những thông tin người ta tiết lộ để cùng mọi người tham khảo, tạo điều kiện cho mọi người coi như là một cái tiền đề suy xét mới trong sự nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


  • Cung Mệnh của Đại Hạn (chú: tức là hình ảnh của cung Mệnh tại Đại Hạn) trùng điệp với cung Phu Thê gốc (chú: tức là Đại Hạn đang ở trên cung Phu Thê) sẽ đại biểu ý nghĩa gì?
  • Cung Huynh Đệ khiến Hoá Kị nhập cung Thiên Di để rồi xung về cung Mệnh – cũng chính là Hóa Kị nhập cung Tài Bạch của Đại Hạn – sẽ đại biểu ý nghĩa gì?
  • Cung Huynh đệ của Đại Hạn khiến Hoá Kị nhập Quan xung Phu Thê – cũng chính là xung vào cung Mệnh Đại hạn – sẽ có ý nghĩa gì? Cùng với ta hình thành quan hệ gì?
Có thể các bạn sẽ nói rằng tôi viết vớ vẩn, nhưng tôi có thể đưa ra 1 ví dụ mà những người đọc về Tử Vi Đẩu Số đều từng nghe thấy.

Tương truyền đệ tử nào đó của Trần Hi Di được một người đàn bà nhờ xem mệnh để biết việc trở về của chồng mình, nói rằng "Mau mau quay về để lo hậu sự cho chồng". Bà ta nghe xong kinh hãi, liền khóc sướt mướt về nhà. Trên đường về gặp Trần Hi Di, tiên sinh hỏi bà ấy tại sao lại buồn như vậy, bà ấy liền kể hết câu chuyện cho Trần Hi Di nghe. Ông nghe xong liền nói đừng lo, làm theo cách này là được: Về nhà thì mau nấu một nồi cháo lớn, nếu có người hỏi thì nói là có chồng về ăn cơm chiều là được, quả nhiên chồng của bà ấy trở về bình an.

Nếu như đệ tử của Trần Hi Di đoán đúng là chồng của người nữ đó chết trên đường đi, thế thì tại sao nồi cháo đó có thể hóa giải vận đen đó? Giữa cháo và việc còn sống có mối liên hệ gì vậy? Đây là một câu chuyện xưa được lưu truyền trong Tử Vi Đẩu Số, không biết thật giả ra sao, nhưng so với sự luận đoán của Chu lão sư cũng là tương tự nhau mà thôi.

Tôi đã từng qua ví dụ trên mà lĩnh ngộ được quy tắc, để giúp bạn suy luận sau khi làm cho A dẫn động sẽ phát sinh sự kiện B. Tuy rằng, không phải mệnh bàn của ai cũng có biểu hiện Tứ Hóa giống nhau, nhưng có quy tắc phù hợp với mệnh bàn xác thực sẽ phát sinh ảnh hưởng qua lại giữa 2 cung vị mà dẫn tới sự kiện. Do đó tôi có thể nói rất chắc chắn rằng, thực sự là Tử Vi Đẩu Số có thể phân tích ra được 2 cung vị khác nhau sau khi kích động qua lại tạo ra sự kiện cùng mối quan hệ nhân quả giữa 2 cung ấy.

Đương nhiên trong cuốn sách này cũng các tiền đề tham khảo, các bạn cứ từ từ nghiên cứu, xem kỹ sẽ tự phát hiện ra.

Có rất nhiều bạn học Tử Vi Đẩu Số, nhất là người mới học, có thể chưa từng gặp qua đại sư toán mệnh cỡ như luận đoán của Chu lão sư. Do đó, đối với cấu trúc luận mệnh Tử Vi Đẩu Số vẫn dừng chân ở mức độ toán mệnh trong từng cung. Cho nên tôi đặc biệt đem những kinh nghiệm xem mệnh trước đây công bố ra ngoài, cùng mọi người tự suy ngẫm về các luận mệnh mà tạo thành kết cấu ứng dụng cao nhất.

Tôi hy vọng thông qua việc thuyết minh của các chương các tiết trong cuốn sách này, tận lực đem các phép tắc quan niệm liên quan tới luận mệnh trong Tử Vi Đẩu Số dùng làm 1 bộ tham khảo tổng thể, mong tạo cho người mới học có nhận thức chính xác về cơ cấu xem mệnh trong Tử Vi Đẩu Số.

#3 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 13:11

CHƯƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TỬ VI ĐẨU SỐ MỆNH LÝ HỌC


Mỗi khu vực, mỗi dân tộc khác nhau sẽ sinh ra những phong tục văn hóa xã hội khác nhau, cho dù cùng một dân tộc mà không cùng thời gian thì cũng tạo ra những luân lý quy phạm xã hội và pháp luật khác nhau. Do đó, phàm là học giả chuyên nghiên cứu về xã hội, tâm lí học, nhất định sẽ vì sự khác nhau về địa lý, thời gian mà có góc độ nghiên cứu khác nhau. Thế nhưng, bản thân học thuật thì không thay đổi về căn bản cơ cấu tổ chức, những việc chỉnh sửa chỉ là ở cành lá mà thôi, sau chỉnh sửa đem học thuật nghiên cứu kết hợp với đặc tính khu vực, khiến cho kết quả nghiên cứu tiếp cận với hiện tượng thực tế. Cho nên khảo xét khoa học nhân văn tâm lí hành vi con người như các môn Xã Hội học, Tâm Lí học, Kinh tế học thì phải tùy Thời Gian và Không Gian khác nhau mà điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Tiến tới dẫn cho xã hội phát triển đúng hướng. Nếu như không biết cơ cấu tổ chức học thuật, thì không có cách nào đem nó hòa hợp với tình huống thực tế, thành ra những thứ học được cũng là cái kiến thức chết, không có cách nào vận dụng biến thông.

Tương tự cái lý ấy để xem Đẩu Số Phi Tinh, cái chỗ khảo xét của nó chính là gồm có đủ những suy xét bóc tách riêng rẽ từng loại quy phạm hành vi trong cái năng lực hành vi tự chủ của loài người, trong quá trình sống sinh ra quỹ đạo vận mệnh cũng như là khuynh hướng của các trạng thái thăng trầm. Loại quy tắc hành vi này đi theo sự thay đổi của Không Gian và Thời Gian mà biến hóa. Cho nên nếu như đứng ngoài những điều kiện thay đổi không ngừng với những trạng thái biến động của hành vi độc lập tự chủ cá nhân, thì thử tính từ những tình huống chẳng đầu chẳng đuôi để mà luận đoán được vận mệnh cá nhân xem có được không?

Thật sự thì đây là một công trình vừa phức tạp vừa khó khăn, suy đoán mạng người, ngoại trừ việc thừa nhận sự thay đổi Không Gian và Thời Gian thì còn phải sửa đổi quy tắc đoán mệnh, còn chú trọng kết hợp với việc hỏi người xem về hoàn cảnh Thời Gian, Không Gian kết hợp với vấn đề Lý khí Tượng số để giải thích sự thay đổi vận mệnh. Bài toán suy luận kiểu này kết hợp với phân tích tâm lí lại càng phức tạp hơn, đương nhiên nó cũng tăng thêm năng lực hiểu biết cho người nghiên cứu, nó có thể tích lũy theo tuổi tác và kết hợp với những sinh hoạt hằng ngày. Nghiên cứu ngày qua ngày, tháng qua tháng, luôn luôn chứng minh ứng nghiệm với nguyên lý của nó, cho nên được mọi người hoan nghênh.

Nay lấy việc đánh cờ làm ví dụ, nếu người ta đang chơi mà bạn ghé vào xem giữa chừng, thì có thể phán được chuẩn xác nước cờ trước đó người ta đã đi quân nào? Nước cờ tiếp theo thì nên đi bước nào? Tin rằng có rất ít người có đủ bản lĩnh ấy, có giỏi đến như bậc thầy uyên bác kỳ nghệ cũng chỉ có thể căn cứ vào thế cục 2 bên để dự đoán cái nước cờ trước đó đi vào chỗ nào mới có thể tạo thành cái cục diện căng thẳng như thế, và nước cờ tiếp theo thì cần đi vào chỗ nào mới có thể chiếm được ưu thế. Trên bàn cờ có các tuyến dọc ngang, quân cờ đôi bên ta và địch, những cái này chính là các yếu tố của quá trình tham gia đánh cờ, cũng chính là các yếu tố tác động quan lại lẫn nhau, và lấy trí tuệ của người đánh cờ quyết định thắng bại của ván cờ chứ không phải do quân cờ hoặc bàn cờ.

Chúng ta thường dùng câu "Thế sự nhất cục kì" (chú: chuyện đời như một ván cờ) để hình dung số phận con người, đi sâu tường tận mà tự hỏi “chẳng phải nó đúng như vậy hay sao”! Chỉ có điều, cái bàn cờ thì biến thành không gian sinh hoạt của chúng ta, những quân cờ thì biến thành bản thân ta và các điều kiện bên ngoài, các quy tắc nước đi của quân cờ ở trên bàn cờ lúc đó biến hành các khuôn phép, luân lý, phong tục tập quán,... người chơi cái cuộc cờ đời biến thành riêng ta mà thôi. Người đánh cờ nhất định sẽ chọn góc độ có lợi nhất, đưa quân cờ đến vị trí đó chiếm lấy vị trí ưu thế, có đôi khi sẽ vì bảo vệ tướng soái mà hi sinh vài quân cờ, nhìn lại trong kinh ngiệm đời người thì chẳng phải là cũng thường xuyên có những nhận định hoặc lựa chọn giống như thế ư!

Thưởng thức một bài thơ cũng có 2 loại trình độ, những người thuộc loại thứ nhất thì thưởng thức về vẻ đẹp của câu từ lời lẽ, cái cảm nhận của người đó chỉ sự hoa mỹ về câu từ lời lẽ mà thôi. Những người thuộc loại thứ hai sẽ thâm nhập vào phỏng đoán đến tình huống và trạng thái tâm lí của nhà thơ sáng tác ra bài thơ này để thấm nhuần cảm xúc nghệ thuật trong đó; Hòa vào cõi lòng của nhà thơ, gắn liền ngôn từ với cảm xúc nghệ thuật, khiến cho cộng hưởng tinh thần, loại trình độ này là vừa cao mà lại vừa sâu. Cho nên chúng ta nghiên cứu học vấn, muốn lĩnh hội những tinh túy của nó thì không được chỉ lí giải về ý nghĩa câu từ, mà phải đi sâu vào tham khảo cả các yếu tố như quá trình tâm tư của người sáng lập phương pháp, quan điểm suy xét, cách truyền đạt thông tin, bối cảnh văn hóa thời đại,... giúp cho việc suy luận hoàn chỉnh mới có thể hiểu rõ được cơ cấu tổ chức của nó. Như vậy mới có thể biết được năng lực cốt lõi của nó căn cứ vào diễn biến ảnh hưởng của yếu tố Không Gian và Thời Gian mà tỉa tót những thứ bên ngoài, đem đến cho học thuật thời đại một sức sống mới.

Tử Vi Đẩu Số Phi Tinh được truyền từ hơn ngàn năm trước đến nay vẫn duy trì độ chính xác rất cao, có thể thấy sự hiệu quả của [Nguyên nhân - Ứng nghiệm] điều chỉnh theo Thời Gian và Không Gian, tùy thời tùy địa điểm mà tiến hành. Ngày nay thông tin liên lạc phát triển, khoa học kỹ thuật tiến bộ, văn hóa rất dễ dàng thông qua các loại truyền thông để thâm nhập một cách mạnh mẽ, luân lí văn hóa truyền thống, kết cấu xã hội, đối mặt với sự xung kích mãnh liệt của cơn lốc tiền bạc, xu thế sắp băng hoại là càng ngày càng gấp gáp. Nếu như chỉnh sửa mệnh lý theo cái nhịp bước chậm rãi của xã hội nông nghiệp thì sẽ không có cách nào theo kịp được tốc độ thay đổi hình thái xã hội mỗi ngày cả chục biến động. Đến lúc đó, sẽ có rất nhiều quy tắc mệnh lý bị nghiền nát bởi cái bánh xe khổng lồ của Thời Gian. Người nghiên cứu mệnh lý phải nghĩ cách khắc phục tốc độ diễn tiến mệnh lý với vấn đề “Thời Sai” của sự biến đổi chóng mặt trong xã hội thực tế, mới có thể không bị tạo ra sự chênh lệch.

Đạo hay Học thuật đã trải qua hơn ngàn năm lưu truyền, trong đó từng được không ít học giả chỉnh sửa, chú thích thêm, dần dần mất đi diện mạo ban đầu. Tử Vi Đẩu Số cũng bị như vậy, đến nỗi có sự phân chia thành nhiều trường phái, như kiểu Phật giáo chia làm phái Đại Thừa và Tiểu Thừa, truyền vào Trung Quốc sau lại chia thành Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Hoa Nghiêm Tông,... Tử Vi Đẩu Số lưu truyền đến nay chia thành các phái Phi Tinh, Chiêm Nghiệm, Tam Hợp,... tạo ra cảnh mỗi môn phái có lí luận khác nhau, khiến cho học giả đời sau không biết lối nào mà lần. Nhất đại tông sư Tử Vi Đẩu Số Trần Hi Di thì nay cốt tiên sớm đã về với cát bụi, nên chẳng thể đứng trước mặt quý vị để mà chỉ điểm về Tử Vi Đẩu Số lúc ban sơ. Chỉ có điều, chúng ta vẫn có thể dựa vào phương thức phỏng đoán, để tham khảo cái tư tưởng môn này khi mà Trần Hi Di tổ sư sáng tác, theo đó mà khám phá diện mạo thực của Đẩu Số.

Chúng ta suy nghĩ kĩ một chút, trong quá trình nhân sinh, có những nhân tố nào cấu thành nên số phận con người:

Một, đời người là một chuỗi liên tiếp về Thời gian, Không gian (hoàn cảnh), quá trình liên tục của các sự kiện, mỗi ngày mỗi phút ở nơi nào? Thời điểm nào? Chuyện gì xảy ra? Liên kết được tạo nên, liền tạo thành mệnh vận của con người, ví dụ như: Bạn vào lúc này (Thời gian), ở trong thư phòng (Không gian), xem quyển sách này (Sự kiện).
Hai, con người không có cách nào để khống chế Thời gian, nhưng Không gian có thể hoán chuyển dựa vào ý chí mỗi người từng nơi từng lúc.
Ba, sự hình thành của sự kiện sẽ tùy vào sự biến hóa của Thời gian, Không gian mà thay đổi, ví dụ như thời xưa nhiễm bệnh sốt rét thì coi như là bệnh nan y còn ngày nay thì có thể trị khỏi, thế nhưng sự kiện tai nạn máy bay thì ngày xưa không có khả năng xảy ra, cho nên xét về mệnh lí, sự kiện tai nạn máy bay này là không có cách nào thể hiện một cách rõ ràng.
Bốn, sự kiện được chia thành mức độ nặng và nhẹ, như kiếm tiền có khi kiếm được ít tiền, có khi kiếm được nhiều tiền, sự cố cũng có mạnh yếu nặng nhẹ khác nhau.
Năm, việc hình thành sự kiện có 2 loại phương thức: loại thứ nhất là được hình thành từ từ như 10 năm vất vả đèn sách mới có thể một sớm thành danh, còn phương thức thứ hai là xảy ra bất ngờ như bị ngộ sát hoặc là trúng thưởng.
Sáu, mỗi người đều có suy nghĩ độc lập, tự chủ năng lực hành vi.
Bảy, mỗi người đều từ một quy tắc hay luân lí xã hội nào đó mà tự do thực hiện quá trình nhân sinh của mình.
Tám, các nhân tố ngoại lệ như: động đất, bão, hồng thủy, gió rét, hạn hán sẽ ảnh hưởng đến mệnh vận của cả một quần thể nhiều người.
Chín, mệnh vận con người bị nhân tố bên ngoài ảnh hưởng, như: Kinh tế đình trệ, tỉ lệ thất nghiệp cao khiến cho sinh hoạt của cá nhân bị ảnh hưởng hoặc phải chi tiêu tiết kiệm, sự ảnh hưởng từ tần số sóng của người thuộc thế giới khác.

Những tiền đề ở trên, đó là "Tiêu chuẩn cơ bản" mà ta phải căn cứ theo để phát triển thành một bộ kỹ thuật dự đoán chuẩn xác vận trình tương lai mỗi người trong những điều kiện "Vô nhân vô quả”.

Những "Tiêu chuẩn cơ bản" ấy tổng hợp đông tây phương hiện nay có các phương pháp dự đoán, có thể chia làm:

Một, căn cứ vào những đặc điểm cá nhân như Tướng mặt, Tướng tay, Tướng nốt ruồi, Tướng xương, Nhóm máu,... lại kết hợp với đặc trưng của hành vi như Tư thế bước đi, Cử chỉ điệu bộ để suy đoán tính cách của người đó cùng Lưu niên vận đồ, các loại như Ma Y Tướng Pháp, Băng Tâm Phú đều của kinh nghiệm nhân tướng học của cổ nhân truyền lại.
Hai, thông qua pháp thuật hoặc môi trường tâm linh để xem tương lai, như các phép thuật lên đồng cầu cơ, phần lớn dựa vào nghi thức trong tôn giáo thông qua một tần suất thanh điệu nào đó trong tụng niệm kinh kệ của tập thể. Khiến cho não của một người sản sinh ra một tần suất sóng để đi vào trạng thái thôi miên tiềm thức, ở trạng thái này sẽ đưa ra lời tiên đoán, các phù thủy người Ấn Độ thì lại dùng một loại nấm độc làm mê loạn thần kinh, trong lúc bị xáo trộn mối quan hệ Không – Thời gian sẽ đưa ra lời đoán sự việc tương lai.
Ba, sử dụng năm tháng ngày giờ sinh, tức lấy bát tự làm yếu tố cơ bản như: Tử Vi Đẩu Số, Tứ Trụ toán mệnh, Chiêm Tinh thuật phương tây sắp xếp các tiêu chí cơ bản và dùng các số liệu Kinh độ Vĩ độ tại nơi sinh. Cũng có nhiều cách toán mệnh khác nhưng những loại kể trên là những môn dự đoán tương lai có tính chính xác cao và được ưa chuộng nhất.
Bốn, dùng môn siêu tâm linh thấu thị, như quả cầu thủy tinh, thuật thôi miên, trong đó có các nước như Ấn Độ, Nga là nổi danh về những nghiên cứu này nhất, họ đã có những thành quả nghiên cứu vượt bậc trên toàn cầu. Nghe nói Cục huấn luyện an ninh quốc gia Liên Xô có một nhóm người làm về tâm linh có thể xuyên qua Thời gian và Không gian để điều khiển ý chí một người.

Trong các phương pháp dự đoán đó, đặc biệt là cái thứ 3 là có mức độ sắp xếp chặt chẽ và có quy tắc diễn dịch rõ ràng, chỉ cần được đào tạo tương xứng thì người nào cũng có thể sử dụng, cho nên có khả năng trở thành thuật dự đoán tương lai thực dụng mà chuẩn xác.

Vào thời Tống ở Trung Quốc hơn 1000 năm trước, điều kiện về vật chất và công cụ có nhiều thiếu sót, vậy mà sáng tạo ra bộ lịch khảo nghiệm mà trải qua thời gian và không gian vẫn có thể duy trì sự chuẩn xác cao độ như Tử Vi Đẩu Số Phi Tinh thì thực sự không phải là điều đơn giản, chúng chắp tay bái phục sức sáng tạo của cổ nhân còn chưa đủ chứ hà cớ gì mà lại ruồng bỏ nó. Thánh nhân khi tạo ra thuật này đã sớm thấy rõ được tính tất yếu của 9 vấn đề trên, cho nên cuốn Tử Vi Đẩu Số Khai Tông Minh Nghĩa có nói:
Đẩu Số dựa vào Thời Gian mà lập Mệnh, đo Địa Chi để lan tỏa trong 12 cung mà lập Cực, ứng Thời gian của các sao. Đẩu Số chú trọng vào việc tạo thành tượng, lấy Thiên Can để dẫn Tứ Hóa phi cung hóa diệu, gieo tượng sắp đặt trong Không Gian.

Ấy là đã chỉ rõ rằng, nòng cốt của Tử Vi Đẩu Số là cấu thành bởi 3 yếu tố "Thời gian, Không gian, Sự kiện", trong những câu đó đã chỉ ra rất rõ ràng rằng:
Địa Chi - Thời gian
Thiên Can - Không gian
Các tinh đẩu - Gieo tượng (sự kiện)

Mối quan hệ đó, lúc quý vị đọc sách Đẩu Số nhất định sẽ thấy rằng "Tứ Hóa chính là Dụng Thần của Đẩu Số", câu này có ý nghĩa gì? Và vì sao chỗ trống trên mệnh bàn lại ghi "Địa Chi" như vậy? Cái vấn đề này tôi thường đem ra hỏi những người mới học Đẩu Số, để xem người đó có có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa bên trong hay không, nếu thiếu đi cái thái độ nghi vấn mọi việc mọi lúc thì không có cách nào đi sâu vào để hiểu rõ Đẩu Số học.

Bởi vì Địa Chi đại biểu cho Thời gian, mà Thời gian đối với mỗi người là đều có sự công bằng như nhau, dù là Tổng Thống cao quý thì một ngày đêm cũng có 24 tiếng hay là kẻ thường dân cũng có 24 tiếng. Thời gian không phải vì cái sự giàu nghèo quý tiện mà dài ngắn khác nhau, Thời gian luôn tiến với tốc độ ổn định không đổi, bất kể là ai và dùng cách nào cũng không thể khiến thời gian dừng lại hoặc quay ngược lại. Vì thế ở trong Mệnh lý thì Thời gian chính là một đại lượng biến thiên mà không thể dùng sức người để khống chế được, cho nên những chỗ trống trên lá số mới đem Thời gian (Địa Chi) mà ghi lên như vậy.

Nói đến từ "Dụng Thần", tôi từng hỏi nhiều chuyên gia về Đẩu Số và Tử Bình và thường nghe được giải thích là: các sao Tứ Hóa chính là đầu mối then chốt của biến hóa trong Đẩu Số, cát hung họa phúc của vận mệnh đều nhân cái tác động của chúng để hiển hiện lên trên mệnh bàn, giống như các thần chốn u minh quản lí mệnh vận mỗi con người, cho nên mới viết là “Dụng thần". Có đúng là như vậy không? Sẽ có nhiều tranh cãi để có được câu trả lời rõ ràng.

Chúng ta đều học qua Toán học ở trường, hẳn là phải biết về tọa độ là cái gì, chúng ta sẽ dùng quan niệm tọa độ để nghiên cứu xem "Dụng thần" là cái gì?
Chúng ta dùng 3 chiều tọa độ Thời gian, Không gian, Sự kiện để biểu thị vận thế của người nào đó (Hình 1), trong hình vẽ ta thấy điểm A biểu thị vào năm 25 tuổi của người ấy (Thời gian) ở tại Đài Trung (Không gian) phát sinh ra tai nạn xe cộ (Sự kiện). Còn điểm B biểu thị vận của người đó năm 31 tuổi ở Đài Bắc để kiếm được món tiền lớn. Giả sử, người đó không ở Đài Trung thì có xảy ra tai nạn không? Nếu không ở Đài Bắc thì có kiếm được món tiền lớn hay không? Nói cách khác điều kiện Không gian mà không phối hợp, điểm A và điểm B có thể tồn tại không? Hiển nhiên sẽ không tồn tại, nếu Thời gian không phù hợp thì không xuất hiện tai nạn xe, cũng có thể là không kiếm được nhiều tiền, bởi vì cần có sự phối hợp Thời gian và Không gian thì mới có thể sinh ra Sự kiện.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Giả sử ta lấy các điểm của một cá nhân trong tất cả các khoảng Thời gian ở mỗi hoàn cảnh Không gian khác nhau, trải qua mỗi việc ta nhập tọa độ nào vào đó, có thể tạo được một đồ thị, thì đó chính là đồ thị số mạng của người đó. Cho nên tôi vẫn có thể nói chắc chắn rằng số phận được cấu thành do 3 yếu tố là Thời gian, Không gian, Sự kiện.

Tất cả chúng ta đều sống trong dòng Thời gian, những chuyện quá khứ là những thứ là không sờ tới được nhưng có thể cảm thụ được dựa vào kí ức để tái hiện chuyện cũ. Sự kiện tương lai cũng không thấy được, không sờ được mà dựa vào tưởng tượng tồn tại trong đầu, theo trí tưởng tượng, cho nên tương lai có rất nhiều khả năng xảy ra chuyện đó, cũng có thể nó sẽ xảy ra ở bạn hoặc người khác (hình vẽ). Chỉ có những sự kiện hiện tại là chúng ta có thể thấy, chạm được, đồng thời phát sinh trên một người nào đó.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thời gian từ quá khứ đến hiện tại thì số phận con người thể hiện qua một đồ thị. Nhưng từ hiện tại đến số phận tương lai thì đồ thị không chỉ có một khả năng mà còn có nhiều hướng đi với nhiều điểm khác nhau. Mỗi đường đi đều có thể là vận mệnh tương lai. Muốn đi vào một đường nào đó chúng ta phải suy xét đến các yếu tố tình hình thế giới, tình hình chính trị, phát triển khoa học, luân lí xã hội, pháp luật, bạn bè thân thích, điều kiện bản thân, sau đó mới đưa ra phán đoán và quyết định đi trên một đường nào đó. Những yếu tố này sẽ không có cách nào để mà điền vào mệnh bàn Đẩu Số, nhưng trong lòng người đoán mệnh Đẩu Số sẽ có sự suy xét. Trong mệnh bàn chỉ có thể cho thấy những yếu tố như "Thời gian, Không gian, Sự kiện" mà thôi, các điều kiện bên ngoài giúp diễn giải quy tắc của mệnh bàn Đẩu Số, phối hợp cả đoi đàng trong ngoài để mà xem mệnh vận con người. Cho nên cơ cấu tổ chức của Tử Vi Đẩu Số đã nói trên đây có thể nói rằng rất hợp với tính khoa học.

Thế nhưng trong cuộc sống ta thường tiếp xúc với cái "Không gian" nào? Trải qua suy nghĩ sâu xa thì Không gian được chia thành 12 cung như Cung Mệnh, Tài Bạch, Thiên Di, Phúc Đức, Phu Thê, Điền Trạch, Tử Tức, Phụ Mẫu, Quan Lộc, Nô Bộc, Tật Ách, Huynh Đệ. Dùng chữ "Cung" là thay cho cách gọi "Không gian", cho nên mới gọi là 12 cung nhân sự. Sau khi xác định ra 12 cung thì phải sắp xếp thứ tự của chúng như thế nào? Cũng phải vắt óc suy nghĩ, trải qua phép tắc của Hà đồ Lạc thư: Nhất Lục cộng tông, Nhị Thất đồng đạo,... (1 & 6 là cùng dòng dõi, 2 & 7 là chung đường lối,…) mà xác định theo thứ tự: Cung Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu.

Tuy là thế nhưng có rất nhiều hoàn cảnh quanh ta khó có thể sử dụng 12 cung để biểu hiện, như: nơi đi làm, quản lí,... Những cái đó cũng sẽ ảnh hưởng tới số phận con người, vậy thì nó sẽ được biểu hiện như thế nào trong mệnh bàn? Sẽ phải thông qua quan niệm "Mượn cung" để diễn sinh ra cái Không gian đó, ví dụ như: cung Tật Ách chính là [cung Điền Trạch của cung Quan Lộc], đó cũng chính là cung vị của Nhà xưởng, Cửa hàng, Cơ quan doanh nghiệp, mà thông qua đó có thể quan sát được loại công việc ở chỗ làm, có người có thể đoán được là vào làm việc ở công ty nọ năm nào và đến nào thì chuyển đi, những cái đó đều căn cứ vào cung Tật Ách.

Những ai học Đẩu Số đều biết qua khái niệm "Lập Thái Cực", căn cứ vào cái câu trong sách là "Cung cung khả lập Thái Cực" (nghĩa là: cung nào cũng có thể lập thành Thái Cực). Ý của nó là, muốn xem số phận của anh em thì lấy cung Huynh Đệ làm cung Mệnh của họ, khi đó thì cung Phu Thê sẽ biến thành [cung Huynh Đệ của cung Huynh Đệ], cung Mệnh của lá số Gốc sẽ biến thành [cung Phụ Mẫu của cung Huynh Đệ], các cung vị khác đều biến đổi thành các loại cung vị tương ứng của cung Huynh Đệ, đây chính là cái ý tứ của câu “Cung cung khả lập Thái Cực”.

Thế nhưng mọi người thường quên cái cung an Thân ở chỗ nào? Cung an Thân ứng với lúc ở độ tuổi thời đại nào? Cái yếu tố cần suy xét này cũng chính là một loại ý nghĩa của Lập Thái Cực. Nếu bỏ qua đặc tính của khu vực và trào lưu thời đại, mà chỉ theo quy tắc Mệnh lý thì không có cách nào để diễn giải được ý nghĩa của nó. Đạo gia nhân sĩ nói "Trong thái cực có thái cực" là đã đem cái ý tứ của “Lập Thái Cực” mà nói rõ ràng ra rồi, ví dụ như nói: Ở trong nước Đài Loan có thể phân chia thành các các Dân tộc miền núi, người Khách Gia (Hakka, Hẹ), người Ngoại tỉnh, người Mân (Phúc Kiến), cả 4 dân tộc sống ở đây khác nhau về tập quán sinh hoạt, huyết thống, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, lẽ nào quy tắc xem mệnh cũng giải thích như nhau? Lấy người Mân làm ví dụ, trẻ con khó nuôi thì có cái tập tục bán khoán hoặc phải nhận cha mẹ nuôi, nhưng người Ngoại tỉnh thì không làm như thế, thành ra nếu không chú ý điểm này thì sẽ mắc sai lầm. Như khu Đại Lục Vân Nam có vài dân tộc thiểu số duy trì chế độ mẫu hệ, vậy thì ở khu vực đó phải giải thích như thế nào về hiện tượng đào hoa? Cho nên chuyên gia Tử Vi Đẩu Số không những cần giỏi ở mệnh lý mà còn phải hiểu dân tình và phong tục ở từng khu vực, cũng theo đó mà điều chỉnh hàm ý giải thích để có thể phù hợp với thực tế.

Cái trục Không Gian trong hình 1 có thể biến đổi dựa vào nhân tố biến động ý chí cá nhân, bạn có thể đi đến bất kì nơi nào theo ý thích. Cho nên cái trục này không chỉ đơn thuần là loại Không Gian theo cách nói về mặt Vật lý mà còn có yếu tố tâm lý ẩn chứa trong đó. Nói cách khác là do ý chí cá nhân dẫn dắt, có thể tùy theo ý thay đổi cái Không Gian. Bởi vì sự biến hóa của Không Gian mà phát sinh sự kiện khác nhau, cho nên ý chí bản thân đủ tính tự chủ để khống chế sự kiện (như kết hôn) vì thế mà tỉ lệ đoán trúng không cao, do bản thân có thể khống chế. Nhưng tự bản thân thì không có cách nào khống chế được các sự kiện có tính phát sinh từ bên ngoài như bị trộm, bị đánh, bị giết,... bởi vì quyền quyết định là ở phía “nó” chứ không nằm ở bạn, cho nên tỉ lệ đoán trúng khá cao. Các dạng sự kiện phát sinh từ bên ngoài cũng cần yếu tố Không Gian phối hợp để tạo thành, nếu như có thể tránh được yếu tố Không Gian bất lợi thì có thể thoát được những sự kiện xui xẻo phát sinh từ bên ngoài. Cho nên nói cái đạo của sự cải số là ở chỗ thay đổi Không gian, ví dụ như nói: Bạn ở một nước nào đó để đầu tư, mà tính người dân ở đó lại lười biếng không có cách nào giao hàng đúng hạn nên làm cho phải bồi thường liên miên, nếu cứ tiếp tục làm nữa thì sẽ khó tránh khỏi số phận phá sản, vậy thì cải vận như thế nào? Đóng xưởng hoặc đi đến nước khác! Đây là sự thật dễ hiểu về cải biến Không Gian thì sẽ cải vận.

Dạng cải biến Không Gian về mặt Vật lý đó là thay đổi hoàn cảnh, cái cách cải vận đó đối với mọi người đều có vì nó là bản năng bẩm sinh. Ngay cả các động vật khác cũng thế, ví dụ như trời vào Thu thì chim nhạn sẽ bay về phía nam để tránh rét. Thế nhưng, Không Gian về mặt Tâm lý hay là Tâm cảnh thì không đơn giản như vậy, nó có mối quan hệ với trí tuệ Tiên Thiên và sự giáo dục Hậu Thiên của mỗi cá nhân. Sự nhận định của chúng ta trong sinh hoạt hằng ngày, khi phải quyết định thì cái căn cứ chính là dựa vào hiểu biết cá nhân, trí tuệ, cùng tài năng làm các nhân tố chi phối mang tính quyết định vận mệnh con người.

Những việc này cần năng lực suy nghĩ thấu đáo, cùng với những kiến thức liên quan, thấy được kiến thức thâm sâu của người đó, nhất định suy xét sẽ chu đáo. Đầy đủ hơn, ngoài trí tuệ Tiên Thiên thì sự giáo dưỡng Hậu Thiên cũng có thể thông qua việc đào tạo để tiếp thu thêm nhiều kiến thức mới, củng cố thêm năng lực để cải thiện tài năng và kiến thức cá nhân. Đối với những người thô bạo, thì làm nhiều việc thiện sẽ giúp làm mềm mại cái tính khí ngang ngược, thấy rõ vẻ đẹp hài hòa của cuộc sống, cải thiện quan hệ giao tiếp, tiến tới cải vận. Cho nên đạo của sửa vận nằm ở cải biến Không Gian, cải biến Không Gian để ứng với sự hợp nhất giữa Tâm và Vật, hai cái này đều xem trọng. Ví dụ như: Một thiếu niên bất lương làm việc xấu ức hiếp mọi người, muốn hối cải, trở thành người tốt, thoát khỏi xã hội đen. Thế nhưng bà con làng xóm lại đã có thành kiến sâu nặng nên không đón nhận. Trong khi anh em giang hồ vẫn còn lôi kéo dồn ép hoặc tìm đến báo thù. Ở lại quê hương thì ngoài việc khó nhận được sự bao dung của bà con làng xóm, lại còn sợ giới hắc đạo tìm đến tiêu diệt bịt đầu mối, vậy thì phải làm sao? Chỉ có đi xa quê hương, thoát li hoàn toàn với hoàn cảnh trước đây, thay đổi triệt để thì mới có thể cải biến số phận.

Tôi đã từng xem trường hợp đặc biệt giống nhau về năm tháng ngày giờ sinh, 1 người được sinh ra từ bào thai đơn, và cùng được sinh ra trong canh giờ ấy là 1 cặp sinh đôi. Đứa bé sinh 1 thì được học tài Đài Loan, người rất thông minh, có tài ăn nói, nhưng không thích đọc sách, cũng không thích bị ràng buộc, cho nên làm chủ tự kinh doanh, nhưng sự nghiệp đạt được chỉ là vụn vặt. Còn trường hợp 2 anh em song sinh thì từ nhỏ đã nỗ lực học tập, du học nước Mỹ, hiện tại là giáo sư đại học được nhiều người kính trọng. Vì sao cùng 1 cách cục mệnh mà lại có số phận không giống nhau, điểm khác nhau đó nằm ở "Không Gian" không giống nhau. Có khả năng để lựa chọn nơi đến phát triển mạnh mẽ cho cách cục số mệnh thì đương nhiên sẽ đạt được thành tựu phi phàm, cho nên Không Gian thật sự là chi phối sự biến hóa của số mệnh.

Tiên đoán là việc thông qua sự ảnh hưởng của cơ chế nào đó, xuyên qua Thời gian và Không gian để suy đoán ra cảnh tượng của tương lai. Bất kể chọn cách dự đoán nào thì “Ý Thức”, “Tâm Cảnh”, “Hoàn Cảnh” đều nắm giữ sự biến hóa của vận mệnh, mà Thiên Can chính là đại diện tổng hợp của Ý Thức, Tâm Cảnh, Hoàn Cảnh đồng thời nắm giữ sự biến hóa của chúng, vậy giải thích 3 cái này thì dựa vào đâu? Hoàn toàn dựa vào cái chủ đề suy đoán vận mạng mà phân định, hễ là cung vị Lục thân thì dùng “Tâm cảnh” để luận, về cung vị Điền Trạch hay Thiên Di thì lấy “Hoàn cảnh” để giải, còn các cung Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Phúc Đức thì lấy “Ý thức” để nói. Cho nên [Tâm cảnh, Ý thức, Hoàn cảnh] quả thực là chi phối toàn bộ sự biến hóa của đời người.

Vì sao ở trong môn Đẩu Số thì Thiên Can Tứ Hóa lại dùng “Hóa Kị” mang ý nghĩa khó khăn không thuận, trục trặc, tai nạn? Bởi vì cái “Kị” chính là ý cái toan tính của “Kỉ tâm” (chú: lòng mình, tư tưởng bản thân), chính là ám chỉ đến lòng mình tạo thành cái nguyên nhân chính của sự khó khăn không thuận lợi, tai nạn, trì trệ. Nếu như có thể thay đổi lòng mình toàn tâm toàn ý hăng hái hướng về phía trước thì có thể gặp lành tránh dữ, làm cho hoàn cảnh biến hóa thông suốt, biết được được rõ nguyên nhân của khó khăn, tìm tòi các biện pháp cải tiến cần thiết, là có thể cải thiện không gian sinh tồn để chuyển biến mệnh vận.

Rất nhiều người đều nói rằng làm việc thiện là có thể cải vận, ngoài các phương thức cưu mang người nghèo, giúp đỡ người khổ, thì ở đây giải thích về nghĩa hẹp của từ “Làm việc thiện”. Có rất nhiều nguyên nhân tạo thành trục trặc tai họa của một cá nhân, mà những nguyên nhân đó chưa chắc là qua những việc giúp người nghèo là có thể thoát được, có người vì nghèo khó mà cảm thấy không thuận lợi, có người thì do việc sinh hoạt tình dục không hòa hợp nên cảm thấy cuộc sống chẳng còn lạc thú, có người thì do con cái bất tài nên cảm thấy số phận khó khăn,… những cái khó khăn này ta đều có thể tìm được căn nguyên và cách giải quyết. Làm việc thiện là phải nhắm vào những cái căn nguyên đó để đưa họ hướng đến những mục tiêu tốt đẹp, nguyện vọng chính đáng. Các bạn cần phải phân biệt rõ ràng về cả “Ý nghĩa” và “Cách làm” của làm việc thiện.

Đúng vậy! cứu tế người nghèo là làm việc thiện, nhưng làm việc thiện không chỉ là những việc cứu tế người nghèo, có rất nhiều cách để làm việc thiện, cách “Làm việc thiện” này cũng có thể cải vận. Có rất nhiều người nói rằng mình thường làm việc thiện, cứu giúp người nghèo, quan tâm người bơ vơ, mà tại sao ông trời không cho họ thoát khỏi xui xẻo, bế tắc công việc? Nhận thức đối với dạng “Làm việc thiện” này là sai lầm, tin rằng rất nhiều người đều tồn tại sự việc khác nhau, nguyên nhân của sự việc cũng khác nhau, thì làm sao mà khi 2 người đó giúp nhau lại có thể gom làm 1 khối để rồi đi oán ông trời, không đi mà nhìn lại bản thân xem vì sao không làm điều thiện ở ngay trong công việc của mình? Đem sự nghiệp kinh doanh làm cho tốt, chủ và thợ hài hòa, vui lòng với lợi ích chung, hoàn thiện quản lí, tiền bạc rõ ràng, chi tiêu thông suốt – những cái này đều là “Làm việc thiện” không thể thiếu trong sự nghiệp kinh doanh. Chẳng chịu đi “Làm việc thiện ngay trong công việc” mà chỉ đi “làm việc thiện” kiểu cứu nghèo cứu khổ ở đẩu đâu chẳng liên quan thì đừng hỏi tại sao công ty sẽ bị phá sản.

Đến đây đã lý giải rõ về chức năng quyền hạn của Thiên Can, nhưng khi ứng dụng vào suy luận vận mệnh, công dụng của nó sẽ thế nào? Thuật đoán mệnh Tử Vi Đẩu Số đem vận mệnh chia thành các đơn vị như Bản Mệnh (cung Mệnh gốc), Đại Hạn, Lưu Niên, Lưu Nguyệt, Lưu Nhật, Lưu Thời, đó là lấy Thời Gian làm trục chính rồi đem vận mệnh chia thành những khoảng Thời Gian khác nhau:

Bản Mệnh: Nắm giữ xu thế tổng quát của cuộc đời, mệnh cách, đặc tính.
Đại Hạn: Nắm giữ xu thế vận động trong 10 năm, xu hướng đại khái của những sự kiện sẽ phát sinh trong 10 năm đó.
Lưu Niên: là vận khí trong 1 năm, những sự kiện sẽ phát sinh trong 1 năm đó, chân tướng sự kiện cát hung được mất.
Lưu Nguyệt: là vận khí trong 1 tháng.
Lưu Nhật: là vận thế trong 1 ngày.

Trong mệnh bàn thì 12 Địa Chi đại biểu cho Thời gian, mà Đại Hạn là một vận 10 năm, phối hợp với 12 Địa Chi thì sẽ dư ra 2 ô, cũng chính là thời gian năm Dần nào đó của Đại Hạn gốc cho đến năm Dần kế tiếp, sau đó chuyển biến thành Đại Hạn khác. Mặc dù Lưu Niên đều ở tại cung Dần, nhưng mà Đại Hạn khác nhau nên vận Lưu Niên cũng theo đó mà khác nhau, do đó mà sẽ không có sự tái diễn. Chúng ta sử dụng quan điểm Toán học để xét, phép Vi Phân (chia nhỏ) của Mệnh chính là Đại Hạn, rồi Đại Hạn lại chia nhỏ chính là Lưu Niên…; còn Lưu Nhật lũy tích chính là thành Lưu Nguyệt, và Lưu Nguyệt lũy tích chính là thành Lưu Niên,… đến đây thì chúng ta đã hiểu rõ được Mệnh là Tích Phân của Vận, mà Vận là Vi Phân của Mệnh, cho nên việc suy luận mệnh vận có thứ tự trước sau của từng quãng Thời gian, không được phép bỏ bớt hoặc là đảo lộn trình tự (hình 3).

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Đem vận thế lấy thời gian chia tách thành những quãng thời gian khác biệt sẽ thu được những vấn đề dưới đây:

Một, sự kiện phát sinh cùng với cung vị của nó là có sự liên quan, như tiền tài bị mất chính là mối quan hệ giữa tiền của ta với bạn bè; vì đất đai mà bị giết chính là quan hệ giữa điền trạch của ta với bạn bè, những cái này là quan hệ ngang hàng thì phải làm thế nào để xâu chuỗi?

Hai, mối quan hệ chiều dọc của cùng một hiện tượng nhân sự mà ở những quãng thời gian khác nhau thì biểu hiện như thế nào? Thí dụ như mối quan hệ giữa tiền bạc của Đại Hạn gốc và tiền bạc của năm nay.

Ba, năm ngoái bạn có thiếu nợ ta 1 khoản tiền, sang năm có thể hoàn trả hay không? Trong vấn đề này, liên quan tới những quãng thời gian nhau, mối quan hệ dọc ngang của hiện tượng nhân sự khác nhau. Cần dùng phương thức nào để bắt đầu xâu chuỗi những mối quan hệ dọc ngang kiểu này? (Hình 4)

Ba vấn đề này liên quan đến mối quan hệ giữa các cung vị nhân sự với những quãng Thời gian khác nhau, dùng góc nhìn Thống kê học để xét thì liệu có phương pháp biểu đạt mối quan hệ qua lại lẫn nhau giữa chúng hay không?

Đương nhiên là tổ sư Trần Hi Di cũng đã từng đau đầu vì vấn đề này, lúc nào cũng suy nghĩ làm cách nào có thể tìm ra được một cái có khả năng kết nối Thời gian, cái kỹ thuật bản lề hỗ động của chúng nói lên mối quan hệ cung vị nhân sự. Và kĩ thuật đó được ra đời, chính là Tứ Hóa, chúng ta dùng Phi Tứ Hóa tinh thì đó chẳng phải là dùng Thiên Can của cung để phi Tứ Hóa đấy sao? Các ngôi sao Hóa này từ một Can cung nào đó mà hóa, nhập vào trong một cung khác, ở mỗi lần Phi Hóa và một lần nhập vào trong cung vị và liền tạo ra một mối quan hệ liên quan nào đó, cái mối quan hệ liên quan ấy có mức độ nông sâu mạnh yếu và cả cát hung, vẫn đều là sử dụng 4 ngôi Hóa tinh khác nhau mà bày tỏ sự mạnh yếu của mối quan hệ trong đó (hình 5).

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thế nhưng giữa “Hóa” và “Không Hóa” thì cần phải căn cứ vào nhân tố nào để quyết định?
Địa Chi là nhân tố Thời gian, mà Thời gian đối với mỗi người đều rất công bằng, với tôi năm nay là năm Đinh Mão thì với bạn cũng là năm Đinh Mão. Nếu như sử dụng Địa Chi Mão để phi Tứ Hóa thì chẳng phải ai cũng đều giống nhau sao ư? Không hợp tình lý như lúc trước đã đề cập qua. Thiên Can đại biểu các nhân tố Không gian như Ý Thức, Tâm Cảnh, Hoàn Cảnh, mà những quyết định trong sinh hoạt hằng ngày đều từ sự chi phối của Ý Thức, Tâm cảnh. Ví dụ như: Hôm nay tâm trạng buồn phiền nên đi shopping, kết quả tình cờ gặp người yêu cũ chưa kết hôn, trong lòng tấu lên một khúc tình cảm mới. Vậy nếu như hôm đó tâm trạng không buồn phiền thì liệu có phát sinh một khúc tình cảm? Sẽ không. Cho nên Tâm Cảnh và Ý Thức là điểm then chốt của sự biến hóa trong sinh hoạt cuộc sống, chúng nắm trong tay quyền quyết định bạn muốn đi đến nơi nào đó. Bởi vì sự khác biệt của Không Gian nên đương nhiên sự việc gặp được cũng sẽ khác nhau, mệnh vận cũng theo đó mà thay đổi. Mà Tứ Hóa là biểu hiện sự lộ ra hoặc ẩn náu của các hiện tượng quan hệ mạnh yếu giữa các cung vị tương quan, các hiện tượng này và Tâm Cảnh, Ý Thức có một mối quan hệ vô cùng chặt chẽ, cho nên tính chất “Hóa” hay “Không Hóa” của các sao đều nằm ở sự thúc giục theo lệnh của Thiên Can. Bởi vì Tứ Hóa chính là sự bày tỏ chi tiết của Tâm Cảnh và Ý Thức, nó như một vị thần có thể xuyên qua Không gian Thời gian khác nhau, cho nên gọi Tứ Hóa là Dụng Thần của Đẩu Số.

Tứ Hóa trong ứng dụng suy đoán vận thế giống như công năng của phép Vi Phân, thông qua lần Vi Phân thứ nhất ta có thể tìm được điểm uốn của đồ thị vận mệnh, đến lần Vi Phân thứ hai sẽ tìm được cực trị trên đồ thị đó, mà Hóa Lộc chính là giá trị cực đại, Hóa Kị là giá trị cực tiểu, các điểm cực trị đó lại chính là thời điểm phát sinh sự kiện. Chúng ta trong lúc suy luận vận Lưu Niên, chẳng phải là bắt đầu từ Mệnh bàn gốc phi Tứ Hóa, sau đó lại từ Đại Hạn bàn phi Tứ Hóa, tiếp đó căn cứ vào tình trạng tác dụng tương hỗ của sự phân bố trên mệnh cục giữa Tứ Hóa của Mệnh bàn gốc với Tứ Hóa của Đại Hạn bàn, mà phán đoán sự phát sinh cát hung mạnh yếu trong 1 năm Lưu Niên. Cho nên muốn phán đoán sẽ xuất hiện sự việc gì, cơ bản nhất là Tứ Hóa phải phi Hóa vài lần? Rõ ràng cái căn cứ của nó cùng với góc nhìn của phép Vi Phân rất giống nhau, đây là sự trùng hợp đến thế sao? Vì sao mà lại gọi là Tử Vi Đẩu “Số” chứ không phải là Tử Vi Đẩu “Thuật”, khả năng này đúng là cổ nhân sớm đã muốn lưu lại nét bút chỉ dấu đấy mà.

Có người nói Tứ Hóa là thiên bẩm, có một lần tổ sư Trần Hi Di đi vào cõi thần tiên gặp được Lã Thuần Dương dạy Tử Vi đại pháp, từ đó Tử Vi Đẩu Số có Tứ Hóa, cho nên Tứ Hóa chính là Dụng Thần của Tử Vi Đẩu Số. Bởi vì có rất nhiều sơn nhân cư sĩ cũng muốn dựa vào việc linh thông đi vào cõi thần tiên như thế, giống như Lã đạo trưởng học dăm ba chiêu thức khác. Ngoài lúc theo tiên sư học Đẩu Số, chưa bao giờ nghe chuyện đi vào cõi thần tiên mà ngộ được tinh hoa của Đẩu Số. Có thể thấy, muốn dựa vào linh thông để tìm cách phá bỏ bế tắc thì không được. Có người đem tôn giáo và mệnh lý kết hợp với nhau, theo đó mà viết sách ở đời thì sẽ vùi Tử Vi Đẩu Số vào mức độ mê tín dị đoan, loạn thần quái đản, đây chính là mặt trái ảnh hưởng tới sự phát triển của Tử Vi Đẩu Số.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ý thức là thể trung gian của dự đoán, nó không bị hạn chế về Không gian và Thời gian, tự do suy tưởng, từ nam đến bắc, từ cổ đến kim, bóp méo mối quan hệ giữa Không gian và Thời gian. Có nhiều phương thức dự đoán thông qua cách Thôi miên, cách dùng thuốc gây ảo giác hoặc mà bóp méo ý thức, phá vỡ sự ràng buộc thông thường mà vượt qua cản trở của Không gian và Thời gian để thấy sự kiện trong tương lai giúp đưa ra lời tiên đoán. Những phương thức này không theo quy tắc bình thường, cũng không hợp lẽ thường, lại cũng không phải trạng thái bình thường. Chúng không như Tử Vi Đẩu Số của Trung Quốc sử dụng Thiên Can đại biểu cho nhân tố Ý Thức và Hoàn Cảnh, chỉ cần ai hiểu được quy tắc bay nhảy của Thiên Can Tứ Hóa thì dù là người ở trạng thái bình thường cũng có thể tiên đoán được tương lai, sự nghiên cứu của tiền nhân về mặt này quả thực là khiến cho người ta bội phục.

Có một số người chỉ đơn thuần lấy các sao tọa ở trong cung để luận mệnh, những người này đến ngay cả phương pháp luận ở ngưỡng cửa cơ bản của Tử Vi Đẩu Số cũng chưa bước vào nổi, thì sao có thể hiểu được sự huyền bí trong Đẩu Số. Tinh tú chỉ là danh hiệu mà thôi, tùy góc độ hỏi về mệnh sẽ có ý nghĩa khác nhau. Như sao Thiên Cơ khi hỏi về vận Tài Bạch với vận Điền Trạch thì ý nghĩa nó hoàn toàn không giống nhau. Chúng ta lại biết Thiên Can Tứ Hóa phụ trách về sự hiển lộ của sự kiện, các tinh tú tới lúc bị “Hóa” sẽ phát sinh năng lực cát hung, còn lúc chưa bị Hóa cũng chỉ là vật chất ở trạng thái tĩnh mà thôi. Sao còn có tính chất đặc biệt là “Tinh tính”, đến lúc bị hóa thì tính chất sao sẽ bị thay đổi, cho nên thấy được rằng đến lúc mà các sao bị hóa thì tính chất sẽ khác với lúc ban đầu rất nhiều, cái đạo lý này không thể không biết.

Ví dụ như sao Thiên Cơ vốn là trục chuyển động cơ giới như Xe hơi (khi ở Thiên Di), đệm lò xo (khi ở Điền Trạch), chân tay (khi ở Tật Ách),… những cái này được gọi là tinh tính (tính chất của sao) của nó. Giả dụ một khi xảy ra Hóa Kị thì sẽ hiển hiện ra hung tượng, biến thành: Tai nạn xe cộ (ở Thiên Di), máy móc trục trặc (khi ở Điền Trạch), chân tay bị thương (khi ở Tật Ách). Trái lại, nếu mà Hóa Lộc thì biến thành: mua xe hơi (ở Thiên Di), mua máy móc (ở Điền Trạch), chân tay phục hồi như cũ (ở Tật Ách). Cho nên tính chất của sao cần phải thông qua ảnh hưởng biến hóa từng tầng của Tứ Hóa thì mới có thể phát sinh được sự biến đổi chất mà dẫn tới phát sinh ra sự kiện.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Có rất nhiều chuyện là do tích tụ từ năm này tháng nọ mới phát sinh, cũng tương tự như vậy, Tử Vi Đẩu Số phi Tứ Hóa cũng phải qua tăng cường của từng tầng Thời Gian mới có thể khiển cho sự việc hiển lộ. Ví dụ như Đại Hạn có biểu hiện một sự việc nào đó, ở trong Lưu Niên cũng lại biểu hiện ra sự việc đó, như vậy Đại Hạn tăng thêm ảnh hưởng 2 tầng lực cho Lưu Niên và tới lúc gặp ở Lưu Nguyệt thì sẽ phát sinh sự việc. Khi thời gian đó qua, cường độ ảnh hưởng sẽ giảm dần từng tầng và tinh tính sẽ trở về trạng thái tĩnh ban đầu.

Loại ảnh hưởng này tăng qua từng tầng, giảm qua từng tầng, kết hợp với hiện tượng cuộc sống quả là không hẹn mà trùng hợp. Con người tồn tại trong 1 hoàn cảnh hoặc 1 ý thức nào đó, qua năm tháng tiếp thu thì sẽ dần dần biến đổi, mới có thể đến được kết quả nhào nặn cuối cùng. Vì sao mẹ của Mạnh Tử 3 lần chuyển chỗ ở? Chính là muốn tìm một chỗ tràn trề bầu không khí học tập, làm cho con cái tiếp thu kiến thức học tập lâu dài. Đến mức giữ được nhiều kiến thức để trở thành nhà tư tưởng lớn thời trung cổ trong lịch sử đó là Mạnh Tử. Cho nên không phải chỉ cần có cái mệnh tốt thì cứ chui rúc ở trong nhà mà không nỗ lực làm việc, hòng ngồi đợi núi vàng núi bạc từ trên trời rớt xuống. Công năng của toán mệnh là chỉ dẫn bạn đi theo một phương hướng phát triển, có thể phát huy tối đa năng lực bản thân, thành quả đạt được sẽ huy hoàng ở mức tối đa.

Sau khi nói dài dòng để giải thích vấn đề, các bạn có thể giải thích công dụng của Thiên Can Tứ Hóa ở những điểm sau:
1. Quán xuyến Thời gian, Không gian, liên kết mối quan hệ tương hỗ của sự kiện.
2. Làm cho sự kiện lộ rõ đúng thời điểm (biểu hiện thông qua Thời gian xuất hiện ra sự kiện)
3. Biểu thị mối quan hệ nhân quả để hình thành sự kiện.

Cho nên thông qua tác dụng Thiên Can Tứ Hóa, chúng ta có thể tìm được mối quan hệ giữa Thời gian, Không gian, Sự kiện để tiến tới tìm được Thời gian xuất hiện và Nguyên nhân. Khi biết được nguyên nhân thì có thể tránh được nhiều sự kiện xấu, đây là chức năng tìm lành tránh dữ của mệnh lý. Thế nhưng người bình thường thì chỉ đủ năng lực đoán 1 hay 2 chuyện, còn muốn đoán được chuyện thứ ba mà chưa hiểu rõ Đẩu Số, thì thực sự rất khó để tìm ra nguyên nhân ở 12 cung với nhiều sao đứng với nhau.

Cho nên nói Tứ Hóa có sẵn tác dụng “Quán xuyến Thời gian, Không gian, liên kết mối quan hệ tương hỗ của sự kiện”, “Làm cho sự kiện lộ rõ đúng thời điểm”, “Biểu thị quan hệ nhân quả để hình thành sự kiện” tựa như nắm trong tay điểm cốt yếu phát sinh sự kiện mà lại có thể xuyên qua Thời gian, Không gian ảnh hưởng đến toàn cục mệnh bàn. Giống như một vị thần không bị hạn chế bởi Không gian và Thời gian. Vì vậy mới gọi Tứ Hóa là Dụng Thần của Tử Vi Đẩu Số.

Môn thuật số do tổ sư Trần Hi Di tạo ra sao mà phức tạp thế, câu từ ẩn chưa nhiều suy nghĩ cẩn thận và sâu sắc của ngài, người thường không tìm ra hết được. Phản đối những người hở ra một tí là mượn danh nghĩa thần thông để vơ vét của cải, lợi dụng mê tín để làm lợi cho bản thân, ngược lại còn làm che lấp đi những nhận thức chân thực của thánh nhân lúc sáng tác ra môn học này.

Điều thứ 5 trong 9 tiền đề ở trước có câu: Sự kiện gồm có 2 loại.
- Một là sự kiện xuất hiện từ từ.
- Hai là sự kiện mang tính đột phát.

Hai dạng sự kiện này mà dùng 1 cách suy diễn thì có đúng hay không? Hoặc là có điểm gì khác nhau? Vấn đề này thì ta phải xem các câu phú “Thái Âm, Hỏa kiềm đồng vị, phản thành thập ác”, “Tham Lang cùng Đà La đồng vị là vì tửu sắc mà mang họa”, “Cơ Lương, Kình Dương hội, tảo hữu hình nhi vãn kiến cô”,… Từ những tổ hợp tính chất sao đó, là đã biết được đặc tính của chúng, cho nên các tổ hợp sao đó cũng có những sát tinh đi theo. Bởi vì tác dụng của sát tinh là tăng sức bùng phát, trong mệnh vận sẽ phát sinh sự kiện đột biến như là: Bị va chạm, giết nhầm, trúng thưởng, hoạnh tài,… Đương nhiên những chuyện đột phát này cũng cần tác dụng thôi thúc tầng tầng của Tứ Hóa thì mới có thể phát sinh được sự kiện, chỉ có điều sự phát sinh nhờ Tứ Hóa là đột nhiên xảy ra sẽ khác với quá trình phát sinh sự kiện từ từ xuất hiện.

Có vài người nói rằng Tử Vi Đẩu Số chính là Chiêm Tinh học, có mối quan hệ mật thiết với Thiên Văn học cổ đại, các tinh tú sử dụng ở trong Đẩu Số chính là tinh viên trên trời. Từ trên mệnh bàn bài bố vị trí các sao theo thời gian chủ nhân mệnh tạo được sinh ra có quan hệ đối ứng với vị trí các tinh viên trên trời, tính chất các sao lại cùng với nhà Thiên Văn học cổ tùy mức độ nhận thức mà gán tinh tính cho một sao ở tinh viên, những thuyết này trên thực tế còn cần phải tranh luận.

Tinh tú sử dụng trong Đẩu Số chỉ là các hư tinh giả lập, tên gọi của tinh tú chỉ là một danh hiệu giống như X, Y trong Đại số dùng đại diện cho một loại ẩn số. Mượn mối quan hệ tên gọi của chúng với đặc tính gán vào ghép với nhau mà thôi (trong phần “Tóm lược tính chất sao” có nói rõ), cũng không phải cứ trong ở các cung mệnh bàn có sao nào tọa thì trên trời cũng có sao tương ứng. Nếu bạn muốn thì cũng có thể đổi tên của sao Tử Vi là “Soái”, Thiên Phủ là “Tướng”, Thiên Cơ là “Lính”,… dùng góc nhìn bàn cờ để giải thích mệnh cục. Trước đây, lúc sư phụ dạy tôi thì thường xuyên dùng thuật ngữ chơi cờ để ví von với mệnh bàn, công dụng cũng như nhau, chỉ có điều mọi người đều cứ gọi các tên Tử Vi, Thiên Phủ,… là các tinh tú nên gọi nhiều thành quen mà thôi.

Trên phố có tới 90% sách lấy tên sao để luận mệnh, khiến cho nhiều độc giả cho rằng tên sao không tốt thì số phận không tốt. Hoàn toàn quên sự thực số phận là do Thời gian, Không gian, Sự kiện tạo thành. Việc hiển lộ ra cát hung của sao là do sự “Hóa” hay “Không hóa” của sao, ảnh hưởng của các Sát tinh gây ra, chứ không phải chỉ dựa vào tên sao mà suy đoán. Các tinh tú còn có ý nghĩa rộng khắp, hình ảnh của chúng là tùy vào góc độ hỏi mệnh mà có sự giải thích thành ý nghĩa khác nhau, cho nên không nên chấp vào cái tên của sao để phán xét là cát hay hung.

Căn cứ theo giải thích ở trên về cơ cấu Tử Vi Đẩu Số, tác dụng của Tứ Hóa, nguyên tắc Suy luận, tính chất sao nguyên gốc, đều có những giải nghĩa hoàn chỉnh. Tôi tin rằng các bạn đã có thể nhận thức cơ bản hoàn chỉnh về cơ cấu Tử Vi Đẩu Số. Cho nên đối với vấn đề tranh luận về các sao trong Đẩu Số là sao thực hay sao giả, hay là Đẩu Số được cải biên từ chiêm tinh thuật phương Tây thì cũng không cần quá để ý nhiều. Cơ cấu mệnh lý, quy tắc suy luận cũng không giống, miễn cưỡng phải tìm ra ai đúng ai sai hoặc môn nào do môn nào đẻ ra thì chỉ là tự mình làm phiền mình mà thôi. Những vấn đề đó nên để dành cho các nhà khảo cổ học tìm hiểu.

Số phận là do Thời gian và Không gian; Sự kiện tạo thành chủ yếu; Công dụng của Tứ Hóa; Ý nghĩa của Thiên Can Địa Chi; Các quan niệm hàm nghĩa của tinh tú sau khi hình thành. Muốn đạt tới đẳng cấp linh thông của Tổ sư Trần Hi Di mới có thể tâm ý tương thông, bằng không thì nhất định không có cửa cho sự mơ hồ kiểu dùng tôn giáo, tư tưởng thần quỷ để đoán mò cái thế giới mệnh lý trong lòng của tổ sư gia.

Muốn ước đoán quá trình suy tính của Tổ sư Trần Hi Di khi mới sáng chế ra Tử Vi Đẩu Số, đừng ngại bắt tay vào làm theo quan niệm lý số đương thời, vũ trụ quan, mới có thể hiểu rõ được Phi tinh Tử Vi Đẩu Số.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 6 Members:

#4 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 13:28

CHƯƠNG 3: NHẬN THỨC MỆNH BÀN VÀ 12 CUNG NHÂN SỰ


Trên bề mặt một mệnh bàn hoàn chỉnh ta thấy ghi đầy rẫy các ký hiệu Thiên Can, Địa Chi, Tinh Tú, 12 cung Nhân sự, Đại Hạn, phương vị và thuộc tính của Ngũ Hành các Địa Chi, rốt cuộc những ký hiệu đó được bày đầy ra trên mệnh bàn đại diện cho cái gì? Trong khi suy đoán mệnh lý thì có vai trò chức năng gì? Đây đều là những vấn đề mà người mới học đều gặp phải, tại chương này chỉ nói rõ về ý nghĩa tiêu biểu của chúng, còn về vai trò chức năng trong suy đoán mệnh lý của các ký hiệu đó thì sẽ giải thích ở chương sau.

Địa Chi chính là nhân tố đại biểu cho Thời gian, mà con người thì không có cách nào để khống chế được Thời gian, cho nên chỗ trống trong mệnh bàn đã lấy Địa Chi ghi vào mà đại biểu cho việc Địa Chi là nhân tố mà không ai có thể khống chế được. Ở phần bên cạnh mỗi ô có thể dùng để ghi chú thêm mấy thứ như Ngũ Hành của Địa Chi, hay Phương hướng và thuộc về Quẻ nào. Ví dụ như cung Hợi thuộc Thủy, là phương Bắc, quái vị là quẻ Càn, ký hiệu này trong lúc suy đoán mệnh bàn sẽ phát sinh ảnh hưởng. Ví dụ như sao Tham lang thuộc Thủy đi vào cung Mệnh ở Hợi, mà Hợi lại thuộc vị trí của Thủy, mà nước nhiều thì lênh đênh, nếu nhập cung Mệnh thì đại biểu tình cảm phong phú, hình tượng tình dục như một dạng nước sông vỡ đê tràn lan khắp nơi, cho nên nói “Tham cư Hợi Tí, phiếm thủy đào hoa” (nghĩa là, Tham lang cư ở cung Hợi cung Tý là tính đào hoa ngập tràn). Cho nên Ngũ Hành của Địa Chi đối với tính chất riêng của Tinh tú sẽ phát sinh ảnh hưởng. Còn với Quái vị thì sao? Trong nguyên tắc hỏi sự việc, thì có thế lấy Quái vị kết hợp với Tinh tú để biểu hiện hình tượng của vật hoặc nhân sự. Ví dụ như: Hợi ở vị trí quái Càn, mà Tham Lang nhập vào vị trí của Hợi chính là người nam trung niên, bởi vì những dấu hiệu này là không đổi cho nên ta cần in cái này trước tiên ở khoảng trống trên mệnh bàn để nó có sẵn trên mệnh bàn tiện cho mọi người ứng dụng.

Lập lá số cần phải rõ ràng chính xác, không được làm bẩn hay để giấy bị nhăn nhúm, đánh dấu phải rõ ràng, để khi bạn nhìn xuống thấy toàn bộ mệnh bàn mới có thể đem các mối quan hệ nhân quả của hình tượng gieo vào trong não một cách rõ rệt. Phi tinh Tử Vi Đẩu Số chú trọng vào mối quan hệ giao hỗ lẫn nhau giữa toàn bộ các cung trên lá số, chứ không tập trung vào tổ hợp tinh tú của 1 cung nào đó để luận đoán cát hung. Cho nên sự hỗn tạp sẽ làm lời nói mơ hồ, đứt đoạn dòng suy nghĩ, ảnh hưởng tới tính hoàn chỉnh của tư duy.

Cuộc sống phải đối mặt với nhiều loại hoàn cảnh và việc đời muôn hình muôn vẻ, tạo thành trong sinh hoạt ngày thường của con người các loại khía cạnh, Vậy suy cho cùng thì có những khía cạnh nào? Làm thế nào để phân chia ra các khía cạnh khác nhau? Chắc chắn rằng những bậc tiên hiền đã thường đau đầu suy nghĩ về cái này, có điều, chúng ta biết rằng 12 cung trong Tử Vi Đẩu Số chính là do bậc tiên hiền phối hợp với 12 Địa Chi mà miễn cưỡng phân chia ra. Chúng đại biểu cho các lĩnh vực mà một cá nhân tiếp xúc trong sinh hoạt như ở các cung vị biểu thị mối quan hệ giữa con người, cha mẹ (Phụ mẫu), anh em (Huynh đệ), con cái (Tử nữ), vợ chồng (Phu thê), bạn bè (Giao hữu), còn các cung vị Quan lộc, Thiên di, Tài bạch thì đại biểu về các hành vi trong sự nghiệp công việc của mình, cung Phúc đức biểu thị đời sống tinh thần của một cá nhân, cung Mệnh và cung Tật ách biểu thị 2 phần tách biệt là Tinh thần và Thể xác của ta. Nhưng ngoài các lĩnh vực ấy, mỗi cá nhân sẽ tiếp xúc những nhân sự và đồ vật không thuộc 12 cung này mà vẫn có ảnh hưởng tới số phận con người. Ví dụ như các yếu tố chú bác, nhà xưởng, ông bà đều không thuộc 12 cung trong lá số, cho nên trong lúc luận đoán số mệnh thì thể dùng cách “Tá cung” (phép “Mượn cung”) để luận đoán những hình tượng sự tình của Người – Việc – Vật mà không nằm trong 12 cung nhân sự. Cho nên mỗi cung không chỉ nói về một đối tượng nhất định nào đó, mà nó còn mang hàm nghĩa là một đối tượng khác trong những việc khác nhau.

Một, [cung Mệnh]: đại biểu cho các tính cách cá nhân, giá trị quan, tư tưởng, tướng mạo, bản thân đương số cao hay thấp, trọng điểm là ở chỗ [cái Tôi về mặt tinh thần]. Cung Mệnh chính là cái Tôi tổng thể, lấy môn cờ tướng để làm ví dụ, cung Mệnh là [chủ soái], tuy không thể qua sông chém tướng thế nhưng trong tổng thể nó là quân cờ quan trọng nhất trong bàn cờ, khi bị chiếu bí thì sẽ kết thúc trò chơi, cung Mệnh cũng tương tự kiểu như vậy.

Hai, [cung Huynh Đệ]: đại biểu cho ô số phận của anh em, tình cảm của anh em nông sâu, có được anh em trợ giúp hay không. Đối với quan hệ giao tiếp trong xã hội sẽ phát triển thành các tình huống khác nhau. Bản thân có năng lực lãnh đạo hay không cũng được thể hiện ở cung này. Vừa có thể là mô tả cha mẹ của cung Phu thê, đó là vị trí của mẹ và cũng vừa là Phu thê của cung Phụ mẫu. Do đó nó có cũng là vị trí của cha mẹ chồng (nữ mệnh), hoặc đại biểu cho cha mẹ vợ.

Ba, [cung Phu Thê]: cho thấy thái độ về chuyện tình cảm của một cá nhân, là người cởi mở hay là bảo thủ, là người lém lỉnh hay là chất phác,… Trước khi kết hôn thì dùng cung này để dự đoán về quan hệ nam nữ, loại đối tượng mà mình thích như thế nào. Còn sau khi kết hôn thì xem về tình cảm sinh hoạt vợ chồng tốt xấu ra sao, có hiện tượng tiềm ẩn xảy ra chuyện ngoại tình hay không, cần phải lấy cái nhìn về ý nghĩa rộng là [cung tình cảm], không nên chỉ nhìn vào cái nghĩa hẹp là cung vợ chồng. Nếu lấy cung Tài Bạch làm cung gốc, thì cung Phu Thê sẽ trở thành cung Phúc Đức của cung Tài Bạch, chính là áp dụng vị trí hưởng thụ tiền bạc kiếm được, không có tiền thì quan hệ vợ chồng tự nhiên sẽ bị ảnh hưởng.

Bốn, [cung Tử Tức]: đại biểu cho ô số phận của con cái, tình cảm ruột thịt cùng với tình duyên khác giới của bản thân. Lúc xem con cái, nó đại diện cho con trai chứ không phải con gái, bởi vì việc sinh con và giới tính có liên quan với nhau. Vì thế, ta có thể xem được năng lực sinh dục của một cá nhân hoặc giới tính hành vi sự vật có liên quan. Cũng là đại biểu cho những cấp dưới mà mình quản lí hoặc là các công ty con có quy mô nhỏ trực thuộc. Nó cũng là cung Quan Lộc của cung Nô Bộc, cho nên nó đại biểu sự nghiệp phía đối tác.

Năm, [cung Tài Bạch]: đại biểu cho tiền mặt lưu động, quan sát một cá nhân cùng năng lực tài vụ có liên quan, làm ngành nghề gì có thể kiếm tiền, gốc gác tiền tài đến từ đâu, năng lực quản lí tiền bạc cao hay thấp, thái độ đối với tiền bạc,… Khi không có tiền, quan hệ vợ chồng cũng sẽ sinh ra thay đổi, cho nên cung vị này quan sát được vợ chồng đối đãi với nhau tốt xấu thế nào sau khi kết hôn.

Sáu, [cung Tật Ách]: đại biểu thể chất của cá nhân, tình trạng sức khỏe, bộ phận tật bệnh, tướng mạo bên ngoài vừa là vị trí [Số kiếp] đại biểu tai nạn phát ra từ cơ thể. Ví dụ như có khối u, xuất huyết dạ dày, tật bệnh phát sinh từ trong cơ thể, biểu thị [cái Tôi vè mặt thể xác]. Vừa là cung Quan Lộc của cung Điền Trạch, cho nên đại biểu cửa hàng, nơi đi làm hoặc nhà xưởng.

Bảy, [cung Thiên Di]: đại biểu tất cả các việc [liên quan tới bên ngoài] như năng lực giao tiếp, gặp gỡ khi ra ngoài, có thể phát triển năng lực đặc biệt của bản thân hay không, quan hệ đối ngoại, vận trình du lịch cùng tình hình phát triển ngoài xã hội. Nó cũng đại biểu vẻ bên ngoài của cá nhân hoặc cách nhìn nhận nói năng, là [cái Tôi biểu hiện ở bên ngoài] của một cá nhân.

Tám, [cung Giao Hữu / Nô Bộc]: đại biểu bạn bè, cộng sự, các tình huống trong đối xử với cấp dưới. Ngày xưa gọi là [cung Nô Bộc] tức cung vị này sẽ biểu thị cho việc có được người trợ thủ đắc lực hay không, còn thời hiện đại bây giờ có thể biểu thị một loại hình cá nhân chọn lựa người giao tiếp. Cũng có thể dùng cung này để xem năng lực lãnh đạo của một cá nhân.

Chín, [cung Quan Lộc]: sự nghiệp tức là vận trình đường lối, có thể xem được đặc tính con người thích hợp với công việc nào, nó cũng đại biểu cho tình trạng của vận trình đường lối. Như học sinh thì là vận trình đi học, sau này ra xã hội thì đại biểu cho vận trình của sự nghiệp, làm quan thì là vận trình thăng tiến chức vị, nên còn gọi là [cung quan lộc] chứ không hẳn chỉ là sự nghiệp mà thôi.

Mười, [cung Điền Trạch]: đại biểu bất động sản, hoàn cảnh nơi ở phù hợp với môi trường hay tọa hướng thế nào, năng lực cao thấp khi lựa chọn nhà cửa, năng lực xử lí chuyện gia đình. Cũng đại biểu cho [Số kiếp] ngoài ý muốn, như đột nhiên bị thương tổn, cho nên còn gọi là [Số kiếp tự]. Trong phong thủy học có nói phòng ốc không tốt cũng sẽ ảnh hưởng tới con cái, cho nên nó cũng đại biểu cho [cách nhìn của người ta về biểu hiện bên ngoài của con cái].

Mười một, [cung Phúc Đức]: Vị trí xem xét một cá nhân có khả năng được hưởng thụ hay không? Hoặc có hứng thú gì? Cho nên còn gọi là [cung Sở thích], cũng có thể dùng để xem vận đồ lúc về già. Cung Phúc Đức tốt, dù không có gia tài bạc triệu nhưng cũng đầy đủ để hưởng phúc tuổi già. Cung Phúc Đức xấu, dù nắm giữ gia tài ngàn tỉ nhưng suốt ngày sẽ nóng vội vì muốn kiến tiền nên lòng không bao giờ thành thản. Ở nữ mệnh thì cung Phúc Đức là cung vị trọng yếu để xem tốt xấu trong hôn nhân, không được quên điểm này.

Mười hai, [cung Phụ Mẫu]: đại biểu ô số mệnh của cha mẹ, cùng với xem duyên phận với cha mẹ sâu hay cạn. Đối ới người đi làm thì đại biểu duyên phận đối với cấp trên, còn kẻ đi học thì là đại biểu duyên đối với thầy. Cũng đại biểu cho khả năng quản chế người khác như quan tòa, cảnh sát, cơ quan chính phủ. Bởi vì thân thể do cha mẹ sinh ra nên sẽ mang di truyền từ cha mẹ, nên cũng thể dựa vào đó xem tướng nên còn gọi là [cung Tướng Mạo].

Trên đây chính là hàm ý cơ bản của 12 cung nhân sự, đồng thời còn dùng phép [mượn cung] để mà diễn dịch đại thể. Các bạn có thể lấy cách mượn cung ở trên để suy ra cách mượn cung của các cung còn lại.

Bây giờ chúng ta sử dụng quan điểm Hà đồ Lạc thư để giải thích mối quan hệ tương hỗ trong cách sắp xếp lần lượt 12 cung nhân sự.
Đầu tiên chúng ta giải thiết rằng đã có mệnh bàn đã điền lên 12 cung nhân sự (hình vẽ số 1/3) lấy cung Mệnh điền số 1, cung Huynh Đệ điền số 2, cung Phu Thê điền số 3,…, căn cứ theo vậy điền từ 1 đến 12 vàotrong mệnh bàn.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Nhất Lục cộng tông (1 và 6 chung gốc):
Cung Mệnh là 1, cung Tật Ách là 6, cung Mệnh đại biểu các đặc tính của Mệnh cách, cá tính, tinh thần của con người, còn cung Tật Ách là thể xác hữu hình của một cá nhân. Có được thể xác khỏe mạnh thì tinh thần mới có thể tạo thành sức sống hoạt bát của con người.

Nhị Thất đồng đạo (2 và 7 chung lối):
Cung Huynh Đệ là 2, cung Thiên Di là 7, anh em trong nhà nhiều, sẽ ra bên ngoài mong được phát triển, đương nhiên sẽ có hiện tượng di chuyển, đến một nơi khác công tác, đi ra khỏi quê quán, cho nên 2 với 7 chung lối.

Tam Bát vi bằng (3 và 8 là bạn):
Cung Phu Thê là 3, cung Giao Hữu (Nô Bộc) là 8, trong kết giao bạn bè thì có nam có nữ, nữ thì có thể trở thành vợ, nam thì có thể trở thành chồng, có kết giao mới có vợ chồng, phù hợp với quan niệm trước và sau hôn nhân của người hiện đại.

Tứ Cửu tác hữu (4 và 9 làm bè):
Cung Tử Tức là 4, cung Sự Nghiệp (Quan Lộc) là 9, chúng ta thường nói đến thành gia lập nghiệp, nói cách khác là kết hôn rồi mới lập gia đình mới, sau đó sẽ sinh con, sẽ chịu trách nhiệm gia đình. Do đó cần sự nghiệp ổn định thì mới có thể lo cho chi phí sinh hoạt cần thiết của vợ con. Cho nên 4 và 9 tương làm bạn bè.

Ngũ Thập đồng đồ (5 và 10 chung đường):
Cung Tài Bạch là 5 để xem về năng lực kiếm tiền, mà đã kiếm tiền sẽ mang về nhà để cung cấp cho việc chi tiêu sinh hoạt hoặc mua nhà đất dùng làm nơi che chở an cư lạc nghiệp cho người thân trong nhà, hoặc đem tiền về nhà để mà cất giữ, cho nên Điền Trạch là vị trí kho tàng của cung Tài Bạch. Cung Điền Trạch mà không đẹp sẽ biểu thị kho sẽ bị phá vỡ, không giữ được tiền tài. Cung Tài Bạch là trạng thái động của tài vận (động sản) còn cung Điền Trạch là trạng thái tĩnh của cất giữ tài sản (bất động sản).

Thập Nhất dữ Nhất đồng tông (11 và 1 cùng họ):
Tức là cung Mệnh cùng với cung Phúc Đức đối đãi ngang nhau, cung Phúc Đức biểu thị sự che chở của tổ tiên, tổ tiên có đức hoặc cá nhân tích nhiều âm đức sẽ cải thiện vận mệnh của cá nhân. Cho nên cung Phúc Đức và cung Mệnh có chức năng ảnh hưởng tổng thể tương tự như nhau đến Mệnh cục.

Thập Nhị dữ Nhị đồng vị (12 và 2 cùng ngôi)
Nghĩa là cung Phụ Mẫu và cung Huynh Đệ được xem như cùng ngôi, bởi vì cha mẹ sinh ra ta thì cũng sẽ sinh ra anh em ta, mà cung Huynh Đệ lại là cung Phụ Mẫu của cung Phu Thê, là cung vị của cha hoặc mẹ, cho nên cung Phụ Mẫu và cung Huynh Đệ đối đãi cùng ngôi.

Từ những thuyết minh ở trên, đã giải thích được mối quan hệ của âm dương và 12 cung nhân sự. Ví dụ như cung Phu Thê xung với cung Mệnh thì ta sẽ thấy, do cung Mệnh vốn nghiêng về mức độ tinh thần của cá nhân cho nên sẽ biểu thị các hiện tượng như về mặt tinh thần giữa 2 vợ chồng là không hợp, hoặc không ưa cái hành vi tác phong của đối phương, mà chẳng ai nói cũng xung (Khắc). Lại giả như cung Phu Thê mà xung với cung Tật Ách, thì sẽ biểu thị ý nghĩa có loại bệnh tật nào đó sẽ phát sinh do giữa chồng vợ có mối tương quan đóng mở. Nếu chỉ có cái tiếng vợ chồng mà lại không có quan hệ tình dục, thì cái bệnh đó sẽ không phát sinh. Nguyên nhân gây bệnh loại này là có thể dự đoán bằng mệnh lí, bởi vì muốn dùng Tứ Hóa để suy đoán Mệnh Vận, thì việc đầu tiên phải phân rõ âm dương của cung vị cùng với mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa các cung vị, mới có thể vận dụng linh hoạt lá số để đoán mệnh.

Các tiên hiền đã sắp xếp thứ tự 12 cung như thế nào.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 2 Members:

#5 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 13:41

CHƯƠNG 4: GIẢI THÍCH NHẬN THỨC CƠ BẢN CỦA BÍ MẬT MỆNH BÀN


Căn cứ vào các số liệu cơ bản của Giới tính, Năm Tháng Ngày Giờ sinh theo âm lịch là có thể bày ra được một mệnh bàn (Lá Số) của một một người. Ở trên mệnh bàn đó, phân bố đầy các Thiên Can, Địa Chi, các Sao, Hóa diệu, các cung nhân sự, chính là ẩn tàng rất nhiều bí mật đợi bạn đến phân tích lí giải. Ở trạng thái chẳng đầu chẳng đuôi, mà phải đi nói ra một cách chắc chắn về những đặc trưng trên cơ thể hoặc các sự kiện đặc thù đã phát sinh của một người lạ huơ lạ hoắc thì thực sự không phải chuyện dễ dàng gì cả.

Cầm lá số, muốn tiến vào giai đoạn lý giải mệnh bàn, nhất định cần có sự thiết lập các quan niệm cơ bản:

1, Nhất định phải xem toàn bộ lá số, không thể xem 1 cung để mà đưa ra phán đoán.
Lấy việc luận tính cách để nói, tất cả các sách Đẩu Số đều nói cần xem các sao tọa ở cung Mệnh, hoặc Hóa tinh, hoặc Địa Chi để phán đoán cá tính của người đó. Đây là cách xem sai, không tin à, bạn có thể lấy mệnh bàn của người quen kết hợp với bất kỳ cuốn sách Tử Vi nào bày bán trên phố có chứa cách xem sao tọa trong cung Mệnh để đoán tính cách, xem thử cuốn đó nói chuẩn hay không? Mười phần thì tới tám chín phần là không chính xác.
Cá tính của một con người là sự tổng hợp các biểu hiện hành vi, nó bao gồm các phạm trù như:
- Nhận thức bản thân
- Xử sự với người khác
- Thái độ làm việc
Ví dụ nói: có vài người ưa nghi thần nghi quỷ, lòng nghi ngờ đặc biệt nghiêm trọng, ngoài những người mà cung Mệnh có sao Cự Môn tọa thủ, thì những người mà cung Phúc Đức có Cự Môn thì cũng có cái khuynh hướng tương tự thế.

Có rất nhiều người rất bá đạo không nói lý lẽ, tráo trở bất thường, chỉ cần thấy người mà các cung Mệnh, Phúc Đức, Điền Trạch,… có Hóa Quyền, Hóa Kị của năm sinh nhập vào cùng 1 cung, đều có những đặc tính bá đạo đó, chứ không phải chỉ xem mỗi cung Mệnh mà thôi.

Lại như, xem về quan hệ vợ chồng ăn ở với nhau, ngoài việc chú ý chính vào cung Phu Thê, còn có các nhân tố khác cũng sẽ ảnh hưởng tới tình cảm giữa vợ chồng, như: cách quản lí con cái sẽ dẫn đến đấu khẩu, hoặc như một người xài tiền không biết điều độ, hoặc là có kẻ làm kiếp cờ bạc,… cũng sẽ đều là các nhân tố dẫn đến oán giận giữa vợ chồng. Hay như, ông chồng bị thất nghiệp, không có tin tức công việc, thì cũng dẫn đến quan hệ tình cảm vợ chồng xấu đi. Những hiện tượng ở trên, thì không phải chỉ dựa vào duy nhất cung vị Phu Thê để nhìn thấy được sự bí ẩn bên trong đó, mà nhất định phải đem kết hợp các cung Tử Tức, Tài Bạch, Quan Lộc để mà phán đoán, mới có thể nắm được quan hệ ứng xử của vợ chồng nhà người ta.

Cho nên, phân tích một mệnh bàn thì không nên chỉ chú trọng vào Mệnh, Tài, Quan mà quên đi các cung vị Tử Tức, Nô Bộc, Phụ Mẫu,… Và cũng không được chỉ xem 1 tổ hợp sao tọa thủ ở 1 cung đơn lẻ mà phán đoán cát hung. Nhất định phải “Toàn bàn quán chiếu” (xem xét toàn bộ lá số) thì mới có thể “Nhất khuy toàn mạo” (một cái nhìn toàn cảnh).

2, Nhất định phải chú ý đến đặc tính lưu chuyển liên tục không ngừng của Thời gian và Không gian.
“Băng đống tam xích, phi nhất nhật chi hàn” (nghĩa là: Ba thước băng dày không chỉ do một ngày giá lạnh) hoặc “Thập niên hàn song khổ, nhất triều thành danh thiên hạ tri” (nghĩa là: Mười năm đèn sách gian khổ chẳng ai hay, một sáng vang danh mà cả thiên hạ đều biết), những câu này đều nói rõ sự tình diễn biến phát triển đều không phải sự việc trong giây lát là thành mà có từng bước thứ tự tiến triển:
Nguyên Nhân -> Ấp Ủ -> Chín Muồi -> Phát Sinh -> Kết Thúc.

Ví dụ như: Bạn đã làm 1 việc gì đó vào năm nào đó, trải qua dăm ba năm sau mới đạt được kết quả, thì cái hình ảnh của tình hình kiểu [sự kiện nào đó kéo dài qua nhiều năm, mới đạt được kết quả] là hiện tượng mà trong lịch trình sinh mệnh của chúng ta cũng thường gặp phải. Cái hiện tượng này biểu thị dù Thời gian trôi qua nhưng Sự việc sẽ tiếp tục tiến lên phía trước, đến khi có kết quả mới ngừng. Không có chuyện vì cái cung Đại Hạn trong lá số dịch chuyển lệch vị trí, hoặc vì cái vị trí cung Lưu Niên thay đổi, mà cái hiện tượng ấy bị biến mất, nó sẽ cứ tiếp tục diễn ra.

Cho nên một “Sự kiện” sẽ trải qua [cung Mệnh gốc biểu hiện dấu hiệu rất nhỏ, tới Đại Hạn càng cụ thể hóa hơn, đến trong năm Lưu Niên nào đó sẽ phát sinh], do đó trong lúc suy luận về sự kiện nào đó, nhất định phải nắm vững 2 điểm then chốt:
- Thời gian phát sinh
- Nguyên nhân hậu quả của sự kiện.
Mà ở trong mệnh bàn cũng có những cung vị thích hợp để thể hiện rõ ràng những hiện tượng này. Lấy một ví dụ để nói rõ (mệnh lệ thứ nhất):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cung Phu Thê gốc có sao Thiên Cơ hóa Lộc cùng với các cát tinh Văn Xương, Hữu Bật. Nhưng Thiên Cơ ở cung vị Mậu Tí, can Mậu khiến cho Thiên Cơ tự hóa Kị, thì bản mệnh của chồng sẽ khó giữ. Khi Đại Hạn đi vào khoảng thời gian 25 – 34 tuổi ở cung Canh Thìn. Cung Phu Thê của Đại Hạn trùng điệp với cung Mệnh gốc (ở Mậu Dần), thiên can Mậu lại khiến cho Thiên Cơ hóa Kị nhập vào cung Phu Thê gốc, làm Thiên Cơ ban đầu bị khử khiến cho duyên với chồng trôi qua gấp hơn, cho nên vì tai nạn trên thuyền mà mất chồng. Cung Phu Thê gốc gieo tượng, trải qua sự thúc giục biến đổi của cung Phu Thê của Đại Hạn trùng trùng điệp tăng mạnh hung lực của Hóa Kị để đến Lưu Niên thành sự việc. Bởi vì Hóa Kị của cung Phu Thê gốc sẽ theo sự lưu chuyển của Đại Hạn mà tiếp tục kéo dài, cũng bởi vì nó chính là chỗ Hóa của Mệnh gốc nên suốt đời đều có hiệu lực. Nếu như là chỗ Hóa của Đại Hạn thì chỉ có tác dụng trong Đại Hạn, khi qua 10 năm Đại Hạn ấy thì hiệu lực sẽ biến mất.

3, Sự việc có mức độ nghiêm trọng không giống nhau.
Cùng một việc phát sinh trên bản thân của một ai đó, mức độ nghiêm trọng giữa lần đầu và lần thứ hai sẽ không hoàn toàn giống nhau. Dấu hiệu biểu hiện của mức độ nghiêm trọng kiểu ấy, thì phải tham khảo tổ hợp của các sao tọa trong cung:
- Chính Tinh
- Sát Tinh
- Hóa Tinh
thì mới có thể biết được rõ tính chất chất mức độ nặng nhẹ, trong đó nổi bật:
Hóa Tinh biểu thị mức độ nghiêm trọng, Sát Tinh cũng có thể tăng mạnh mức độ nghiêm trọng.

Ví dụ như: Cự Môn bị sao Hóa Kị xung động thì dễ bị trộm cắp, nhưng nếu như Cự Môn, Tả Phụ, Kình Dương đồng cung thì sẽ biến thành tình huống “Thâu bất thành dụng thường” (nghĩa là: Trộm không được thì Cướp), thậm chí còn biến thành động dao giết người, cái này là đều do mang Sát Tinh: xui xẻo của Kình Dương.

Do đó, trong khi phân biệt mức độ nghiêm trọng của 1 việc thì phải dựa vào:
- Các nhân tố, giúp cho khảo sát toàn bộ lá số mới có thể xác minh được tính nghiêm trọng của sự kiện.
- Nếu như xảy ra chuyện nào đó, trực giác của chúng ta sẽ có phản ứng nào:
+ Chuyện gì xảy ra? (Sự kiện)
+ Khi nào xảy ra? (Thời gian)
+ Nghiêm trọng không? (Mức độ nghiêm trọng)
+ Tại sao lại xảy ra chuyện đó? (Cái gì có liên quan)

Bốn vấn đề ở trên chẳng phải là phản ứng tự nhiên của chúng đối với những vấn đề thường hay hỏi đó ư! Những vấn đề này chúng ta đều muốn lý giải nội dung chủ yếu bốn điều đó.

Trong ví dụ trên, Thiên Cơ năm sinh hóa Lộc gặp phải Tự hóa Kị tạo thành Song Kị, hơn nữa cung Phu Thê của Đại Hạn hóa Kị tiến vào, đồng thời cũng dẫn theo các sao Văn Khúc, Tả Phụ, Đà La vào kết hợp cùng với Thiên Cơ ban đầu, có Hữu Bật, Văn Xương mà từ đó hiện ra hình ảnh và mức độ nghiêm trọng của sự kiện. Cho nên, từ trong một lá số để có thể phân tích ra chúng ta phải thấu hiểu được các yếu tố hạng mục của “Sự tình”.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



4, Sự phát sinh của sự việc, có một số yêu cầu trải qua sự Ấp Ủ chậm rãi mới thành việc, có một số Đột Nhiên mà thành sự kiện.
Bởi vì, sự phát sinh của mỗi sự việc đều khác nhau, không phải “Việc nào cũng đều cần trải qua quá trình phát triển ấp ủ”, mà các sự khác biệt này đều ở trạng thái tổ hợp của các sao. Nếu như thuộc tổ hợp các sao cực hung thì sẽ dễ phát sinh sự việc bất ngờ ngoài ý muốn. Các tổ hợp sao hung là:
Liêm Trinh, Thất Sát, chôn xác trên đường.
Tham Cự Phá Hao, vùi thây dưới nước.
…..
Trong những bài phú cổ có đề cập đến những tổ hợp sao, theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, đều có những loại xu thế ấy, không nên xem nhẹ. Đương nhiên cũng có một số tổ hợp sao tốt có thể làm cho người ta cơ hội làm giàu sau 1 đêm. Nhưng vì để tránh cho một số người cho là mình có cái tổ hợp sao có thể giàu sau một đêm ấy, mà quên việc nỗ lực chăm chỉ công tác, chỉ ngồi một chỗ há miệng chờ tiền từ trên trời rớt xuống cho nên không dám viết ra.

Cho nên trong suy đoán sự việc, đối với sự phát sinh của sự việc, tính nặng nhẹ mau chậm chính là có trạng thái tổ hợp sao của các Can Chi đối lập nhau biểu hiện ra. Nhất định phải nhìn rõ mọi việc thì mới có khả năng phân biệt được.

5, Người bình thường trong sinh hoạt hằng ngày, rất dễ gặp phải những vấn đề cần phải đưa ra quyết định
- Lúc nào thay đổi công việc?
- Thay đổi công việc nào thì tốt hơn?
- Gây dựng sự nghiệp có được không?
- Đổi chỗ ở có được không?
- Nên học ngành nào?

Các bạn tự hỏi lòng một chút, khi bạn suy xét những việc ở trên, lúc cần phải quyết định, những yếu tố nào sẽ được xem xét?
Lấy kết hôn làm ví dụ:
- Hai người đã cùng nhất trí tư tưởng
- Kinh tế bản thân thế nào (nhà cửa, xe cộ, tiền mặt, tiền gởi ngân hàng,…)
- Sự nghiệp căn bản thế nào (địa vị xã hôi, tiền đồ sự nghiệp, danh tiếng công ty,…)
- Nhân phẩm người yêu thế nào?.... và rất nhiều vấn đề khác.
Nếu như đều thỏa mãn tất cả điều kiện trên thì sẽ đưa ra được quyết định, biến thành hành động thực hiện và từ đó sẽ đưa ra được kết quả là cát hay hung.

Trong Đẩu Số chính là lấy Tứ Hóa tinh là Lộc, Quyền, Khoa, Kị để biểu thị yếu tố hoàn cảnh bên ngoài có lợi cho ta hay không? Từ đó ảnh hưởng đến hiện tượng mạnh mẽ của mức độ quyết tâm.
Chú ý các trạng thái tổ hợp Tứ Hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kị là có hiện lên hay không những tổ hợp Tứ Hóa khác nhau:
5.1, Rơi vào cùng 1 cung vị của cung Tam Hợp với cung Mệnh gốc?
(ví dụ, tổ hợp Tứ Hóa cùng rơi vào vị trí của cung Tài gốc, là cung Tam Hợp với cung Mệnh gốc)
5.2, Rơi vào 1 cung vị nào đó của cung chiếu về cung Tam Hợp với cung Mệnh gốc?
(ví dụ, tổ hợp Tứ Hóa có một vài sao rơi vào cung Phúc gốc chiếu về cung Tài gốc, là cung Tam Hợp với cung Mệnh gốc)
5.3, Rơi vào ngay trong phương Tam Hợp của cung Mệnh gốc?
(ví dụ, tổ hợp Tứ Hóa có một vài sao rơi ngay vào cung Phúc gốc VÀ/HOẶC cung Tài gốc, là các cung trong phương Tam Hợp với cung Mệnh gốc)
5.4, Rơi vào ngay trong phương Tam Hợp của cung chiếu về cung Mệnh gốc?
(ví dụ, tổ hợp Tứ Hóa có một vài sao rơi ngay vào cung Phúc gốc là cung ở trong phương Tam Hợp với cung Thiên Di gốc, mà Thiên Di là cung chiếu về cung Mệnh gốc)
5.5, Không rơi vào ngay trong phương Tam Hợp?

Những tổ hợp Tứ Hóa khác nhau đó, cùng rơi vào cung vị của lá số (mệnh bàn), có hiện lên các tình huống Tam Hợp, Xung, Chiếu, Hội Nhập hay không, tất cả sẽ hiện ra rõ ràng những họa phúc cát hung khác nhau, dự kiến mạnh mẽ hay không, điềm báo về các lực hành vi là vượng hay suy.

Từ tổ hợp sao Tứ Hóa với cung vị mà chúng rơi vào trên lá số có phải là Tam Hợp phương với Thái Tuế hay không, thì mới phán đoán quyết tâm đủ mạnh mẽ để có thể biến thành hành động được hay không? Kết quả có gặp được các hiện tượng tốt đẹp hay không? Tứ Hóa chính là chỉ tiêu đánh giá về mức độ mạnh nhẹ của quyết tâm. Phương vị tổ hợp các sao Tứ Hóa rơi vào cung vị của mệnh bàn có hiện lên các xu thế hùng mạnh của Tam Hợp phương hay không, thì mới có thể phán đoán được mức độ mạnh mẽ của quyết tâm.

Diễn biến thúc giục Hóa của các Can cung Đại Hạn và Lưu Niên phi Tứ Hóa, sẽ sản sinh ra các loại ảnh hưởng giao hỗ qua lại của các tổ hợp Thái Tuế, với Mệnh gốc, Đại Hạn, Lưu Niên, để phán đoán tình hình biến đổi của hiện tượng vận động (vận thế). Các loại ảnh tượng đó thuộc về tình hình biến hóa của vận thế, nhất định phải dựa vào cái diễn biến thúc giục hóa của các Can cung Đại Hạn và Lưu Niên phi Tứ Hóa, sản sinh ra các loại quan hệ xen kẽ lẫn nhau của các tổ hợp Thái Tuế, với Mệnh gốc, Đại Hạn, Lưu Niên để phán đoán, không được chỉ dựa vào trạng thái tổ hợp các sao tọa trong cung để phán đoán.

6, Hai cách giải thích về thuật ngữ “Tại Số “Hóa Khí của các sao
Nắm chắc được tính chất các sao là nền móng nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, và những thuyết minh ở mức độ nhập môn của tính chất các sao thuộc chương Chư Tinh Vấn Đáp trong sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư thời Tống là rất hoàn chỉnh.

Nhưng các bạn trong lúc đọc về Chư Tinh Vấn Đáp (hỏi đáp về các sao), nhất định sẽ thấy 2 loại thuật ngữ “Tại Số” và “Hóa khí”, như: “Liêm Trinh thuộc Hỏa, là sao thứ năm của Bắc Đẩu, tại đẩu ti phẩm trật, Tại Số ti quyền lệnh, không lâm vào chỗ miếu vượng lại phạm thêm Quan phủ, cho nên Hóa Khí gọi là Tù,…”

Rốt cuộc “Tại Số” và “Hóa Khí” đại biểu ý nghĩa gì?
Giải thích rõ cái gì gọi là “Tại Số” của tính chất sao?
Giải thích rõ cái gì gọi là “Hóa Khí” của tính chất sao?

Những thứ này đều là đầu đề quan trọng mà nhất định phải làm cho rõ ràng trong lúc nghiên cứu về tính chất các sao. Lấy con người mà nói, mỗi người đều có các đặc tính:
- Thái độ đối với cha mẹ
- Thái độ đối với bạn bè
- Thái độ với anh em
- Thái độ với vợ chồng
- Thái độ đối với con cái
Những đặc tính này đều có thái độ khác nhau theo mức độ thân mật tác động theo mối quan hệ với lục thân.

Bởi vì các sao tọa thủ ở mỗi cung vị trong mệnh bàn có sự khác nhau, Can cung khác nhau, cho nên đối với sự khác nhau về “cung nhân sự” cũng có sự khác nhau về thái độ.

Tổ hợp các sao tọa thủ: đại biểu đầy đủ đặc tính của cung, đây là giải thích rõ về cái gọi là “Tại Số” của các tinh đẩu, ví dụ như: Thiên Tướng ở cung Huynh Đệ thì có thể nói rằng người anh em thích cơm ngon áo đẹp.

Can cung Tứ Hóa: Cái này giải thích rõ về cái được gọi là “Hóa Khí” của sao tọa trong cung. Ví dụ như, cung Huynh Đệ có Thiên Tướng độc tọa, mà cái hóa của Can cung này phi Tứ Hóa nếu như thành ra Hóa Kị xung cung Mệnh thì chẳng thể được nhờ vả gì với người anh em của mình, bởi vì Ấn tinh hóa Kị tới xung Mệnh. giải thích rõ về cái được gọi là “Hóa Khí” của tính chất sao.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 3 Members:

#6 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 13:52

CHƯƠNG 5: MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ TÍNH CON NGƯỜI VỚI CÁC CUNG VỊ


Bởi vì sự hình thành của tính cách con người có rất nhiều nhân tố phức tạp đan xen và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Nhưng mà, yếu tố Tiên Thiên vẫn chiếm địa vị rất trọng yếu. Những bạn đọc mà có nhiều người anh em thì cần có sự đồng thuận rõ ràng như bên dưới:

Tuy cùng một mẹ sinh ra nhưng tính cách, tướng mạo, nhân sinh quan, giá trị quan thậm chí thói quen cũng khác nhau. Căn cứ theo những kiến giải của khoa học cho rằng: Trẻ em sinh ra như tờ giấy trắng, lúc bé đưa cho nó những đồ vật giống nhau, sau quá trình đứa bé tiếp nhận xử lí thì sẽ có kết quả giống nhau với mỗi đồ vật.

Thế nhưng, trên thực thế thì không giống như vậy, có anh cả chất phác kiệm lời con em thì có tài ăn nói,… đây không phải là trường hợp cá biệt. Những sự khác nhau này do nhân tố Tiên Thiên tạo thành, nói cách khác là mỗi người sinh ra thì trời đã cho một tính cách riêng biệt, cái đặc tính ấy có thể dựa vào quá trình dạy dỗ Hậu Thiên làm cho thay đổi chút ít, nhưng lại không bao giờ thay đổi hoàn toàn. Không phải ông cha ta hay nói câu “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” đó sao?

Sự khác nhau giữa bẩm sinh và giáo dục sau sau này, cũng sẽ tạo ra nhiều ảnh hưởng đối với vận mệnh con người, như: Cùng là một người ngang ngược không nói lí lẽ, nếu được giáo dục tốt đẹp thì sẽ thành tướng lĩnh lỗi lạc gánh trách nhiệm giữ gìn biên cương, mở mang bờ cõi. Nếu như không được giáo dục để dẫn đường, có thể trở thành đại ca du đãng, ức hiếp người lành, tranh giành địa phận, thu phí bảo kê. Cá tính hai người giống nhau, cách xử lý công việc cũng có sự tương đồng, nhưng cái ý nghĩa, khí thế và cách cục của những thành tựu đạt được thì lại khác nhau rất nhiều.
  • Điểm tương đồng: Cá tính ngang ngược - không nói lí lẽ. Mở mang bờ cõi - mở rộng địa bàn. Đều làm người chỉ huy.
  • Điểm khác nhau: Một người làm tướng lĩnh anh dũng đi mở mang bờ cõi, giúp nước an dân. Kẻ kia thì làm thủ lĩnh của bọn lưu manh, chiếm đất xưng oai, phân chia địa bàn, ức hiếp người lành.
Có đủ năng lực để nắm giữ được đặc tính mệnh cách, kết hợp với quá trình giáo dục Hậu Thiên và hướng đến sự lựa chọn công việc phù hợp để phát triển, sau này có thể đạt được thành tựu lớn, cũng nhận được ảnh hưởng đối với các đóng góp xã hội và đánh giá của mọi người cũng đặt nền tảng trên cơ sở này. Cho nên việc giúp trẻ em nhận thức được bản thân, khuyến khích sự phát triển phù hợp của trẻ, sẽ tốt hơn rất nhiều so với việc giáo dục kiểu nhồi nhét và làm trẻ hoang mang về tương lai, tệ hơn là không biết mình muốn gì và mất phương hướng.

Bạn đã từng nghe chuyện Chu Nguyên Chương sau khi thống nhất thiên hạ chưa? Ông ấy có được thiên hạ là do ảnh hưởng của Lưu Bá Ôn, vì tin vào mệnh lý nên ông ra lệnh toàn cõi Đại Minh tìm những người sinh cùng năm tháng ngày giờ với Chu Nguyên Chương để bắt lại để giết đi. Bỗng dưng trong 1 lúc lại có một ý nghĩ chợt thoáng qua, liền đi vào đại lao chọn một người và hỏi làm nghề gì để sống, thì người đó đáp “Tôi làm nghề nuôi ong”. Rồi Chu Nguyên Chương lại hỏi “Ngươi nuôi bao nhiêu ong?” thì người kia đáp lại “Chín rương”. Chu Nguyên Chương nghe như vậy rồi suy nghĩ “Ta có được thiên hạ, phân thành 9 châu mà cai trị, lấy nuôi vạn dân. Còn người này chỉ là một người nuôi 9 rương ong mật, thì cũng là tương đồng như ta”. Ngay sau khi hết xúc động, ông thưởng tiền cho toàn bộ người cùng tuổi rồi thả ra.

Cho nên mặc dù co những người sinh cùng năm tháng ngày giờ nhưng lại tiếp nhận những tác động:
  • Phúc đức ông bà tổ tiên
  • Cha mẹ
  • Giáo dục
  • Hàng xóm láng giềng, Bạn bè thân hữu
  • Phong thủy
  • Tín ngưỡng

Và nhiều vấn đề khác cũng tạo ra sự khác biệt mà ảnh hưởng đến xu thế vận đồ tương lai. Người có mệnh cách tốt mà không được bồi dưỡng thì không có cách nào đạt được thành công huy hoàng, cũng giống như cây cỏ ngoài đồng mà thôi. Vì vậy không được quên việc bồi dưỡng cho bản thân để cải tạo số mệnh.

Nói cách khác, mấu chốt của sự khác biệt đó là việc phân biệt thiếu sự chi tiết. Cùng một canh giờ gồm 2 giờ nhỏ, lấy tốc độ sinh đẻ ngày nay mà nói, cùng một canh giờ mà quá nhiều người sinh ra trên đời. Giả sử lấy mức độ phân loại chi tiết theo tiêu chuẩn từng “Giây”, thì tỉ lệ trùng lặp sẽ giảm xuống rất nhiều, sẽ khiến mức độ tỉ mỉ chính xác của việc suy đoán mệnh lý sẽ dẫn đến cực kỳ cao. Nhưng mà trải qua mấy nghìn năm, khoa học tiến bộ đã có thể đi lên vũ trụ, nhưng người ngày nay vẫn không có cách nào tạo ra được một môn học có thể đoán được vận mệnh tương lai một cách tỉ mỉ chính xác như thế. Nguyên nhân này là do đâu? Có phải rằng người bây giờ không thông minh bằng cổ nhân?

Con người có nhiều mặt về hành vi ở các lĩnh vực hoặc trường hợp:
  • Trong lí tưởng
  • Trong gia đình
  • Trong công việc
  • Trong giao tiếp
Đều sẽ có những biểu hiện ra các hành vi cử chỉ khác nhau để đối mặt với những tình huống khác nhau hoặc nhân vật khác nhau.

Cho nên tính tình của con người cũng là do những cung vị khác nhau biểu hiện ra, không được chỉ căn cứ vào mỗi một tổ hợp sao ở cung Mệnh mà có thể kết luận được cá tính. Nhất định phải từ các tổ hợp các sao cùng 12 cung vị từ cung Mệnh, cung Huynh Đệ, cung Phu Thê,... mà phán đoán tính cách con người.

Ví dụ như: cung Tài Bạch ta có thể xem được khả năng nắm giữ tiền bạc của một cá nhân, khả năng điều hành, năng lực kiếm tiền ở bên ngoài cùng với nguồn tiền. Cũng có thể xem đuợc thái độ của một cá nhân đối với tiền bạc;
Nếu có sao Hóa Kị của năm sinh thì tương đối bảo thủ, tiết kiệm, keo kiệt.
Nếu có Hóa Quyền của năm sinh gặp Tự hóa Quyền thì là người dám kiếm tiền dám chi tiêu, sẽ tương đối không biết giữ tiền, nhưng sẽ nghĩ mọi biện pháp để kiếm tiền;
Còn nếu có sao Hóa Quyền của năm sinh tọa thủ, lại gặp Tự hóa Kị thì sao? Thì có khuynh hướng “tùy hứng, thích thì làm”, bởi vì có sao Hóa Quyền của năm sinh quản chế, cá tính có cố chấp nhưng không đến mức quá đáng.
Vì thế, dù cung Tài Bạch chủ quản về [vận đồ của những thứ liên quan đến tiền bạc] nhưng kết hợp những đặc tính đó sẽ biểu hiện ra hành vi và thành ra một dạng biểu hiện đặc trưng của [tính cách].

Cho nên, tính cách của con người không phải xem một cung mà đoán được. Đối với người mới học tử vi mà nói, nhất định phải phá vỡ được sự hạn chế của 12 cung, cũng là không nên chỉ xem tổ hợp sao tại một cung như thế này mà phán thẳng 1 câu mệnh người khác như thế kia, thường gọi là vơ đũa cả nắm nên sẽ không có cách nào để có được cái nhìn tổng quát.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Như mệnh bàn phía trên, ta thấy sao Thái Dương tọa Mệnh thì phải luận đoán cá tính thế nào?
Đương nhiên không được quên cung Mệnh có Chính tinh Thái Dương, nhất định sẽ ảnh hưởng tới tính cách của người đó. Còn cung Thiên Di có Thiên Lương hóa Lộc thì sao vậy? Nó cũng sẽ mang lại đặc tính giỏi về khả năng giao tiếp, tài ăn nói lưu loát, và cung Mệnh có sao Văn Khúc hội hợp thì càng tăng thêm khả năng lực về giao tiếp, tài ăn nói. Cung Quan Lộc có Cự Môn, Hữu Bật, bởi vì sao Cự Môn chủ về ám, ẩn bên trong, cho nên sẽ biểu hiện tính cách là thích tỏ vẻ huyền bí, có điều giấu diếm hoặc lừa dối. Nhưng tại cung Mệnh lại có có sao Thái Dương chủ trong sáng vô tư, quang minh chính đại. Do đó ta thấy việc lừa dối đây không phải mang tính chất là ác ý, có tính hài hước, hay nói đùa hoặc nói dối có thiện ý. Vì vậy, sau khi xem các sao trên toàn bộ lá số, thì mới có thể nắm được tính cách của người chủ lá số.

Còn như, Tứ Hóa của năm sinh trong mệnh bàn đối với cá tính có sản sinh ra ảnh hưởng hay không?
Chắc chắn là có sức ảnh hưởng, hơn nữa sức ảnh hưởng của chúng còn rất mạnh. Lấy mệnh bàn ở trên để nói, cung Thiên Di nêu chỉ có sao Thiên Lương mà thôi, do Thiên Lương có tính [tự tạo khuôn phép] cho nên [sẽ tiết chế hành vi, tự ràng buộc mình]; thế sau khi [Hóa Quyền] thì thế nào? sẽ [tăng mạnh năng lực tự tọa khuôn phép, cùng theo đó yêu cầu người khác tuân theo] mà trở thành tính cách [bá đạo, chuyên chế]. Cho nên các sao có hóa hay không có hóa tinh đồng cung thì đối với tính chất của chúng sẽ tạo thành sự biến đổi rất lớn, các bạn phải rất thận trọng.
(Chú thích: đoạn này dịch nguyên văn, mặc dù tác giả có nói lấy lá số bên trên làm ví dụ, nhưng dưới đó lại nói là Thiên Lương hóa Quyền, trong khi lá số người tuổi Nhâm ở trên thì Thiên Lương hóa Lộc. Còn giả sử lấy lá số của người Mệnh Thiên Lương sinh năm Bính ở chương 4 thì cũng không thấy có khả năng Hóa Quyền. Độc giả lưu ý vậy, chỉ lấy ý quên lời, hiểu phần lý giải gia tăng cường độ tính cách thành bá đạo khi sao Thiên Lương hóa Quyền.)

Bây giờ lấy vài ví dụ thực tế, nói rõ về Tứ Hóa của năm sinh và các sao Hóa ở các cung nhân sự bên ngoài cung Mệnh ảnh hưởng tới tính cách con người:

Thiên Lương hóa Quyền tại cung Huynh Đệ: là người độc tài, mặc kệ người khác thế nào thì họ đều phải nghe lời hắn. Bởi vì Thiên Lương là thống soái, sau khi hóa Quyền thì uy quyền của nó càng tăng lên, không thể xâm phạm, cho nên đặc biệt độc tài.

Cự Môn hóa Kị tại cung Phúc Đức: là người thích nói dối và không thành thực nhưng lại tin vào tôn giáo, rất thành kính có thiện tâm, có sự đồng cảm. Nói tới nói lui, rất lộn xộn bởi vì Cự Môn chủ thị phi (đúng sai), nhân vì nó Hóa Kị cho nên không phân biệt được đúng sai. Đã không còn khả năng phán đoán, năng lực phân tích, mà chỉ có linh cảm, trực giác nên rất dễ đi sâu vào mê tín.

Tham Lang hóa Quyền gặp Văn Khúc hóa Kị ở cung Điền Trạch: loại kết cấu này là dạng Thủy Hỏa không tương thích với nhau, Hóa Quyền và Hóa Kị không tương hợp nhau cho nên độc tài bá đạo, gàn dở bướng bỉnh, lúc thì yêu thương còn có lúc thì bạo ngược, cá tính tráo trở không có sự trước sau như một, người nhà đều phải nghe theo, vâng lời theo, loại người cáu kỉnh này rất khó chiều.

Như ví dụ kể trên, đối với tính cách thì các sao Hóa có sức ảnh hưởng rất lớn mặc dù không nằm trong cung Mệnh. Thậm chí ngay cả các tổ hợp sao và Hóa tinh ở trong cung Điền Trạch cũng có ảnh hưởng lớn đối với cá tính. Đây là điều thông thường cơ bản mà người mới học phải luôn ghi nhớ trong lòng, không thể chỉ dựa vào những tổ hợp sao ở cung Mệnh và cung Phúc Đức để luận đoán cá tính.

Cá tính đều không chỉ biểu hiện ở một cung vị, nó là một loạt phản ứng tự nhiên đối với người, sự việc, đồ vật, người khác, bản thân được tổng hợp lại được thể hiện thông qua cử chỉ thái độ trong sinh hoạt hằng ngày. Cho nên đến đây, 12 cung trong mệnh bàn sẽ ảnh hưởng mạnh hoặc yếu đối với tính cách của người đó. Vì vậy không thể cứ đâm đầu vào tổ hợp sao và Hóa tinh của cung Mệnh mà đoán ngay được tính cách người đó.

Cá tính là một loạt phản ứng tự nhiên đối với người, sự việc, đồ vật, người khác, bản thân, hội nhóm được biểu hiện trong sinh hoạt hằng ngày bằng thái độ, cử chỉ, hành vi. Mà 12 cung trong mệnh bàn, trong đó mỗi cung có tổ hợp sao, Hóa tinh đều có sức ảnh hưởng mạnh hoặc yếu đối với tính cách một người. Vì thế ta không nên cứ chăm chăm vào tổ hợp sao tọa ở cung Mệnh và cung Phúc Đức để luận đoán cá tính. Nhất định phải tổng hợp lại 12 cung để suy luận cá tính.

#7 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 14:06

CHƯƠNG 6: LẬP HƯỚNG LÀ GÌ?


Những sự việc xảy ra trong cuộc sống rất rắc rối phức tạp, nó tương tác ảnh hưởng với nhau mà tạo ra cát hung. Cho nên, khi suy đoán vận hạn cát hung thì nhất định phải đem cả 12 cung tương tác cùng với nhau để xử lí cùng một lúc, không nên đem tách rời ra từng cung riêng biệt để suy đoán.

Khi chúng ta gặp một mệnh bàn của một người xa lạ, trên đó chỉ có các dấu hiệu của các Sao, các Can cung, các vị trí cung, các Địa Chi, Tứ Hóa mà thôi. Làm sao có thể dựa vào những dấu hiệu này mà giải thích những vấn đề ta chưa bao giờ gặp? Đối với bối cảnh dữ liệu của các loại sự việc của chủ nhân mệnh bàn hoàn toàn mờ mịt. Thật sự là như mò kim đáy bể, không biết đâu mà lần.

Cái gọi là “Lập Hướng” chính là mang ý nghĩa là xác định phương hướng trong những tình huống mù mịt không manh mối. Thật ra trong mệnh bàn đã lưu lại một chút manh mối, cung cấp cho ta cái bản lề nhân quả để bóc kén tìm ra mối tơ trong đó. Tại 12 cung trong mệnh bàn cùng với các sự kiện trong đời sống, tìm ra cung vị đối ứng hình ảnh, để lấy đó mà cân nhắc sự ảnh hưởng họa phúc cát hung, đó chính là “Lập Hướng”.

Ở chỗ này tôi yêu cầu những bạn nào có chí học tập Tử Vi Đẩu Số nhất định phải bỏ cái quan điểm luận đoán sự kiện chỉ dựa vào một cung. Đương nhiên, đối với những sự việc đơn thuần thì có thể từ một cung vị thì là có thể suy luận ra. Nhưng chuyện thiên hạ không chỉ đơn giản như thế, chúng ta có thể lấy một số sự kiện có khả năng phát sinh trong cuộc sống, nó được liệt kê như sau:
1. Bệnh chết, sống thọ và chết già.
2. Ốm đau.
3. Bị thương.
4. Bị người sát hại.
5. Cha mẹ mất, anh em mất, con cái mất.
6. Tự sát
7. Giết người
8. Loạn luân
9. Giết cha mẹ, giết anh chị em
10. Giết chồng, giết vợ.
11. Bị cưỡng hiếp, hoặc tự nguyện mất trinh
12. Li hôn do ngoại tình, tiền bạc, sự nghiệp, sinh hoạt tình dục.
13. Mất vợ hay chồng do chết thảm, chết do bệnh.
14. Anh em từ mặt nhau
15. Ở riêng, chia tay, ở cùng nhau
16. Phu thê như kẻ thù
17. Vợ chồng cãi nhau
18. Hai vợ, hai chồng
19. Minh hôn (cưới người cõi âm)
20. Đồng tính luyến ái
21. Bạn bè
22. Đụng người, bị đụng
23. Kẻ bán thân (nam, nữ )
24. Dời mộ
25. Du học
26. Cử đi nước ngoài
27. Tạo lập sụ nghiệp - tự kinh doanh, hùn vốn đầu tư.
28. Kiếm tiền
29. Mua xe
30. Mua điền trạch
31. Bán điền trạch
32. Cầm cố thế chấp
33. Vay tiền
34. Sửa nhà đổi cửa
35. Phá sản, sập tiệm
36. Thất nghiệp, nghỉ việc
37. Bị lừa tiền
38. Chuyển nhà
39. Vỡ hụi
40. Nhận được chi phiếu khống
41. Đầu tư thất bại
42. Thủy tai, thiên tai, hỏa tai
43. Vỡ đê đập
44. Lụt lội vùi lấp điền trạch
45. Trộm cướp
46. Bị cấp trên giáng chức
47. Ghi tội vào sổ đen
48. Tham ô, phạm pháp, ngồi tù
49. Tàn phế bẩm sinh
50. Kỳ quặc quái gở
51. Có người gửi hộ khẩu, tài khoản
52. Mất tích
53. Phát điên
54. Ma quỷ lộng hành trong nhà

Trong các sự kiện nói trên, có thể chỉ cần dựa vào 1 cung vị duy nhất là đoán được cát hung vận đồ. Nhưng mà cũng có những việc trong đời người thì không thể chỉ xem 1 cung mà có thể phán đoán được. Ví dụ như: Tử vong, chỉ riêng cái mục tử vong mà nói, có khả năng “nguyên nhân dẫn đến tử vong” chính là:
- Bệnh tật: cơ quan nội tạng bên trong có bệnh, ngộc độc thực phẩm,…
- Tai nạn xe: bị người khác tông / mình tông vào người khác, tông xe vào cột điện,…
- Bị giết: bị kẻ gian sát hại, bị bạn bè sát hại,...
- Hình phạt mà chết: bị tử hình bắn chết hoặc bị tiêm thuốc chết
- Chết ngoài ý muốn: ngã chết, chết đuối, chết đói, đá núi đè, chết ngạt,…
- Tự sát: uống thuốc trừ sâu, thuốc ngủ,…

Những nguyên nhân kể trên ở trong 12 cung mệnh đều có các cung vị biểu lộ khác nhau. Đừng tưởng rằng việc chết thì chỉ xem cung Mệnh hoặc cung Tật Ách mà thôi. Các cung vị khác cũng sẽ cơ hội biểu lộ triệu chứng tử vong. Cho nên nói, nhất định phải lấy sự kiện nhân sinh và mối quan hệ đối ảnh giữa các cung vị trong mệnh bàn Đẩu Số, phân tích ra rõ ràng, mới có thể xác định được phương hướng, tìm ra cung vị liên quan để từ đó suy đoán ảnh hưởng cát hung.

Trong các sự kiện nhân sinh, vì mối quan hệ hình thành thói quen, nên thường không thêm vào những điểm tỉ mỉ mà chỉ đi vào những điểm lớn khái quát, thì sẽ bỏ qua những nội hàm ẩn chưa đằng sau, cũng vì việc đó mà đánh mất đầu mối để phân giải vấn đề. Cho nên cần phải rèn luyện thói quen ghi chép đầy đủ nguyên nhân hậu quả, mới đúng là công phu căn bản rất quan trọng trong việc học tập Đẩu Số.

Nếu như cho rằng việc xem sinh tử chỉ cần xem mỗi cung vị Tật Ách mà bỏ qua các cung vị khác có liên quan thì cũng chỉ là thấy bói xem voi, hoàn toàn không có cách nào giải đáp chính xác được. Bởi vì thế, trước khi luận mệnh thì nhất định phải xác định phương hướng, gọi tắt là “Lập hướng”, có lập hướng chính xác thì mới có thể tìm được cung vị chính xác để có thể cân nhắc được cát hung. Lập hướng sai thì không thể tìm đến cung vị phù hợp để mà luận cát hung thì không bao giờ đúng. Bản thân thầy xem mệnh xác định phương hướng còn không rõ ràng thì làm sao mà đoán được cát hung? Cho nên, ở sự vận dụng Tứ Hóa, lập hướng tìm ra cung vị chính xác, chính là điểm cực kì cực kì cơ bản và là công phu trọng yếu.

Lại lấy ví dụ mà nói, đối tượng liên quan đến hôn nhân, người xưa chủ yếu là do mai mối, nghe theo lời cha mẹ mà kết hôn. Cha mẹ sẽ chọn người phù hợp cho con cái và có quyền quyết định tuyệt đối về việc lúc nào thì kết. Cho nên lúc xưa lấy cung Phụ Mẫu và cung Phu Thê làm trọng, nếu cha mẹ yêu thương và quan tâm tới chuyện đại sự cả đời của con cái thì sẽ chọn một người phù hợp cho con mình. Còn nếu như cha mẹ quan tâm tới tiền tài, lấy hạnh phúc của con cái đổi lấy tiền bạc, loại mua bán hôn nhân thế này thì xem cung vị nào để phán đoán cát hung vậy? Trong tình huống này, đối tượng kết hôn đều cho cha mẹ quyết đinh, sự tốt xấu của hôn nhân đương nhiên là cung Phụ Mẫu có sức ảnh hưởng mang tính quyết định.

Do xã hội ngày nay đã cởi mở, những con người hiện đại đã giảm bớt dạng hôn nhân kiểu “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, nam và nữ đã có nhiều cơ hội công khai gặp gỡ nhau, những người nam nữ chưa lập gia đình cũng có thể gặp nhau một cách thoải mái, cũng không còn chuyện có người chỉ trỏ môi giới, và việc nghe lời cha mẹ kết hôn cũng giảm, ngược lại hầu hết những người trong cuộc tự do ý chí để quyết định việc hôn nhân của mình.

Cho nên quá trình kết hôn thời hiện đại là “Gặp gỡ trước, sau đó mới kết hôn”. Nếu như gặp gỡ nhau mà không vừa mắt hoặc cá tính không hợp thì rút lui, do đó cái thuật ngữ thời hiện đại ta hay gọi là “Chia tay” cũng sản sinh ra từ việc này. Trong giai đoạn gặp gỡ, nếu như đối phương có nhân phẩm tốt, cá tính phù hợp thì sẽ tiếp tục gặp gỡ, tình cảm 2 người sẽ liên tục phát triển mà kết hôn thành vợ chồng. Cho nên xem về việc hôn nhân thời hiện đại lấy cung Nô Bộc và cung Phu Thê làm trọng. Vấn đề này là do xã hội tiến hóa mà thành ra sẽ có chỗ khác với trọng điểm hoặc góc độ xem mệnh của người xưa. Đây là điểm người mới học Tử Vi Đẩu Số cần chú ý về điểm khác nhau giữa hiện đại và cổ xưa. Không nên học theo kiểu dạy sao làm vậy, cứ đi theo cổ xưa mà không biết cách thay đổi để vận dụng vào thời hiện đại. Bởi vậy ta có thể suy rộng ra, có một vài sự kiện nhân sinh trên mệnh bàn quả thực không thể lấy một cung vị mà đoán được.

Cung Giao Hữu (cung Nô Bộc) mà tốt, có cát tinh thủ hộ, ta sẽ thấy không phải là gặp ai họ cũng giao du, nên đối tượng họ giao lưu cũng là người đứng đắn, tự nhiên họ cũng có thể tìm được đối tượng tốt hơn. Tôi cũng từng xem qua kết cấu cung Phu Thê của vài người chưa kết hôn cũng không tệ, nhưng bởi vì cung Nô Bộc không tốt nên không có cách nào theo đúng trình tự “gặp trước, kết hôn sau” như người hiện đại để đi đến kết hôn.

Lập hướng cung vị của việc xem mệnh, cũng phải tùy vào sự biến đổi thời đại để chọn cung đối chiếu phù hợp, không nên cứng nhắc vào lập luận chủ yếu trong các câu phú văn của các bậc tiên hiền thời xưa. Do chế độ chính trị mới, phong trào xã hội, tư tưởng ảnh hưởng tới hình thức tư duy của con người và quy phạm xã hội, từ đó mà thay đổi số phận con người.

Nếu có cô tinh (các sao chủ về cô đơn) tọa thủ, bạn bè chỉ có 2 hay 3 người. Đối với những loại người thế này thì phải qua mai mối, sắp đặt của cha mẹ thì mới dễ dàng kết hôn. Nếu cho họ tự phát triển thì chỉ có nước ế cả đời. Mấy năm gần đây có rất nhiều tiểu thư lớn tuổi chưa lập gia đình, tôi xem qua rất nhiều đều là cô tinh tọa Mệnh hoặc ở tam phương hội nhập vào nhiều cô tinh trong mệnh cục.

Theo sách cổ mà nói, nữ mệnh lấy 3 cung là Phu Thê, Tử Tức, Phúc Đức làm cường cung, đây là nhận định của chế độ xã hội cổ đại còn với thời hiện đại thì phải xem cung Mệnh là trọng điểm. Ở người xưa, đàn ông lo việc ngoài, đàn bà lo việc nhà, hơn nữa kinh tế thời cổ đại không phát triển. Người phụ nữ xưa không có đi ra ngoài công tác, chỉ ở nhà và làm chủ việc gia đình nội trợ. Hơn nữa, trong đại gia đình thời xưa, người phụ nữ phải ở nhà phụng dưỡng cha mẹ chồng, chị em dâu ở chung, dạy dỗ con cái, phải hòa thuận hiền lành. Cho nên mới cần coi trọng cung Phúc Đức. Người phụ nữ hiện đại bây giờ cũng có thể đi ra ngoài công tác làm việc, chỗ nào cũng có. Trong kinh tế cũng có năng lực độc lập tự chủ, không gian sinh hoạt cũng rộng ra, không còn giới hạn bên trong gia đình nữa. Hơn nữa, xã hội bây giờ cạnh tranh khốc liệt, phần lớn đàn ông đều muốn có vợ. Có thể cùng giúp đỡ để thành sự nghiệp của chung hoặc kiếm tiền cùng nhau nuôi gia đình. Do đó, xem mệnh người phụ nữ hiện đại ngoài cung Phu Thê , Phúc Đức thì cung Tài Bạch, cung Quan Lộc cũng rất quan trọng.

Người ta hay nói “vợ chồng nghèo hèn trăm sự khổ”, hai chữ nghèo hèn thì chữ nghèo chính là chỉ Tài Bạch, chữ hèn là chỉ vị thế Sự Nghiệp. Nếu như không có tiền tài, lại không có tổ nghiệp kế thừa, làm công việc bình thường thì đương nhiên là trăm sự khổ. Cho nên người phối ngẫu mà tốt ở quản lí tài sản mà sự nghiệp lại cao, có chức vị được người khác tôn trọng thì đối với tình cảm vợ chồng cũng được trợ giúp ít nhiều.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Ngược lại, chúng ta hãy phân tích xem nhân tố nào làm cho việc hôn nhân hiện nay không thành công mỹ mãn. Đi từ 2 cung Phu Thê và Phúc Đức để luận đoán hôn nhân mỹ mãn có đúng hay không? Điểm này không thiết thực, bởi vì nhân tố tạo thành hôn nhân không mỹ mãn thì nhiều, phải xem toàn bộ mệnh cục thì mới suy xét được, vận hạn có ổn hay không thì mới có thể phán định được nhân duyên tốt hay xấu.

Do phân tích ở trên, dường như muốn tìm được một nửa kia phù hợp còn khó hơn lên trời. Nên ta không cần khẩn trương, chỉ cần cung Giao Hữu (Nô Bộc), cung Phu Thê tốt đẹp thì có thể tìm được một nửa xứng đáng. Nếu 2 cung này không tốt thì ta có thể tìm người có sao tọa Mệnh hỗ trợ cho mình cũng có thể tạo thành được nhân duyên mỹ mãn. Đến chuyện sau khi cưới, sẽ gặp phải khó khăn ra sao? Điểm này thì ta cần phải phân tích vận đồ thì mới có thể đoán được một cách chính xác. Đối với cung Phu Thê, cung Mệnh của bạn không tốt thì cũng không quá buồn lòng. Trong Đẩu Số có rất nhiều sao hỗ trợ cho nhau. Có một người có mệnh tọa ở Nhâm Tí có sao Vũ Khúc hóa Kị cùng với sao Thiên Phù ở cung Mệnh, cung mệnh tọa thủ Hóa kị của năm sinh lại Tự hóa Kị, hẳn là mệnh không tốt. Thế nhưng đây là một người bác sĩ phụ sản giỏi khắp cả nước. Mà vợ anh ta có Thất Sát tọa mệnh tại Tí, đảm nhiệm bác sĩ ngoại khoa. Hai người lúc bình thường thì trao đổi với nhau những điều tâm đắc, giúp đỡ lẫn nhau, tình cảm tốt đẹp. Sau khi kết hôn nhiều năm vẫn chưa từng cãi nhau. Cho nên cung giao hữu, cung phu thê của bạn không tốt, cứ cố gắng tìm kiếm cũng sẽ tìm được người phù hợp. Tấm lòng phải rộng rãi, tầm nhìn phải rộng lớn thì thế giới sẽ mở rộng hơn, tất nhiên sẽ có nhiều cơ hội sản sinh hơn.

Trong hàng hải có la bàn để xác định phương hướng, hàng không thì có rada có khả năng định hướng trên trời cũng tương tự thế. Nó cũng giống như tìm thấy được điểm hé ra trong mệnh bàn vô nhân vô quả, rồi đối với số liệu bối cảnh người trong cuộc mà hoàn toàn không biết tình hình. Muốn tìm ra mối quan hệ nhân quả thì rất khó, phải lập hướng trên mệnh bàn. Điểm trọng yếu là thường xuyên quan sát trên xã hội có muôn hình vạn trạng của hiện tượng nhân sinh, tìm cung vị đối ứng trên mệnh bàn và phải chú ý rằng hiện tượng nhân sinh cũng không phải chỉ do một cung đối ứng duy nhất gây ra, cũng có khi là do 12 cung tạo thành. Làm thế nào để có thể bao quát được tất cả những việc trong nhân gian? Vì thế muốn khai phá một sự kiện của một cá nhân trong thế gian thì phải dùng sự việc đó đối chiếu với một cung phù hợp, như thế mới không bỏ sót mối tương quan cung vị.

Tìm được sự kiện nhân sinh và tìm được cung vị đối ứng với sự kiện đó chính là lập hướng. Có năng lực lập hướng thì mới có thể phân tích chính xác cung vị trên mệnh bàn. Nếu không thể lập hướng sẽ mù tịt không rõ manh mối, chỉ có thể dựa vào tổ hợp tinh tú để luận mệnh thì không có cách nào suy đoán được cát hung vận thế.

Thế nhưng vấn đề lập hướng luôn luôn được các đại sư Tử Vi Đẩu Số coi là bí kíp độc môn, tuyệt đối không thể dễ dàng truyền ra ngoài. Cho nên đến đây có rất nhiều người học Đẩu Số cả nửa đời người nhưng chỉ biết sơ sơ luận mệnh mà thôi. Bất quá tôi kiến nghị những bạn nào cùng sở thích thì hãy sưu tập nhiều lá số của nhiều người, tỉ mỉ xác minh ghi lại những chuyện đầy đủ tiền căn hậu quả, từ có thể quy nạp thông tin để có thể đoán được. Như: nhà cửa có chuyện ma quái, điên loạn, trúng độc là những điểm lập hướng của sự kiện đặc thù. Tôi cũng chính là quá trình hơn 10 năm xem mệnh miễn phí cho công ty và những người khác mà tích lũy khá nhiều điểm lập hướng, mới biết được chỗ thần diệu của đẩu số.

Tổng kết lại:
- Một, lập hướng là cơ sở của việc đoán mệnh trong Đẩu Số, có năng lực lập hướng thì mới có thể nắm giữ manh mối, phân tích mệnh bàn. Cái gì gọi là lập hướng, đó chính là tìm điểm bắt đầu sự kiện và tìm cung vị đối ứng trong mệnh bàn Đẩu Số.
- Hai, các sự kiện nhân sinh và các cung vị trong Đẩu Số cũng không phải là mối quan hệ một - một. Có vài sự kiện nhân sinh trong mệnh bàn Đẩu Số có liên quan tới 2 cung vị hoặc nhiều hơn thế.
- Ba, sự kiện nhân sinh phải phân hóa tường tận, không nên do sự bao quát không rõ ràng tên gọi mà quên đi những nhân tố ẩn hàm phía sau. Kể lại, ghi lại chân tướng sự kiện, ghi đầy đủ quan hệ tiền căn hậu quả là có thể tìm được cung vị phù hợp trên mệnh bàn để lập hướng. Do đó có thể suy đoán được ảnh hưởng cát hung.
- Bốn, từ xưa đến nay do hình thái xã hội thay đổi, tập tính thay đổi, có rất nhiều lập hướng cung vị đã thay đổi. Vì thế không nên ngựa quen đường cũ di theo sách cổ mà không vận dụng biến đổi vào đời sống hiện đại.

#8 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 14:16

CHƯƠNG 7: DẤU HIỆU ĐẨU SỐ VÀ SỰ KIỆN NHÂN SINH


Nội hàm của một sự việc gồm có rất nhiều yếu tố, nhưng bởi vì chúng ta qua quá trình sinh hoạt từng trải lâu dài và có kinh nghiệm, khiến cho chúng ta khi gặp những tình huống sẽ gặp sản sinh phản ứng theo trực giác tự nhiên. Cho nên có rất nhiều “Nội hàm” dễ ở trạng thái hình thành thói quen mà bị xem nhẹ đi.

Hoặc do mối quan hệ hình thành thói quen, lấy sự việc nào đó để liên tưởng đến đối tượng nào đó một cách rất tự nhiên, ở trong đầu chúng ta cũng tự nhiên hiện lên một chút “Hình Ảnh” mà quên đi những nội hàm khá. Như việc Ăn cơm, sự kiện này có nhiều loại trạng thái tình huống như ăn tại nhà, ăn tại khách sạn,… Nếu như ngồi tại nhà hàng ăn thì trong đầu người kia sẽ hiện lên hình ảnh khác với là “Hình Ảnh” ngồi nhà ăn cơm. Điều này biểu thị cùng là sự kiện [ăn cơm], nhưng do trường hợp khác nhau nên nội hàm của chúng cũng khác nhau. Cho nên, nội hàm của sự việc, sẵn có nhiều yếu tố cấu thành:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Khi ghi chép sự kiện nhất định phải bao hàm các yếu tố kể trên thì mới hoàn chỉnh, rồi mới có thể căn cứ sự khác biệt về nội hàm bên trong mà chọn cung vị phù hợp. Đương nhiên, tiên hiền sáng tạo Đẩu Số tự nhiên vốn cũng nghĩ tới những yếu tố này để suy đoán một việc hoặc ghi chép một việc nhất định phải làm. Nếu như thiếu sót một yếu tố bất kì thì không thể hiểu được hoặc thành một câu chuyện không xác thực, như:
Đi ăn cùng bạn gái ở nhà hàng. Khi nào? Không biết!
Hoặc: 12h trưa ngày 23/11/1993 ăn ở nhà hàng. Cùng ai? không rõ lắm! Và tại sao đến nhà hàng để ăn cơm?
Đó đều là những ghi chép không rõ ràng. Đem mối quan hệ nhân quả của một sự việc mà kể rõ ràng đối với việc nghiên cứu Đẩu Số có tác dụng cực kì to lớn, có thể từ đó đưa ra được quy tắc đoán mệnh. Nếu có thời gian tôi sẽ công khai bí quyết làm thế nào để có thể căn cứ vào mệnh bàn mà đưa ra mối điểm mấu chốt nhân quả. Rốt cuộc thì trong Tử Vi Đẩu Số, có những dấu hiệu nào phù hợp với những yếu tố nói trên? Nhìn lại trong mệnh bàn Đẩu Số, bao hàm những dấu hiệu nào?
1. Thiên Can: gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
2. Địa Chi: gồm có Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
3. Các sao: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương,… 28 sao chủ yếu
4. Tứ Hóa: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, đây là 4 ngôi sao Hóa
5. Hóa tinh: sao Cự Môn của[Cự Môn hóa Kị] (chú thích: “Hóa tinh” nghĩa là “sao biến hóa”, có lẽ tác giả muốn nói đến cái sao gốc trước khi nó xảy ra việc hóa).
6. Cung vị: 12 cung gồm Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Nữ, Tài Bạch, Tật Ách,…
Những dấu hiệu này thành cơ sở suy luận trong Tử Vi Đẩu Số, chúng cùng với những yếu tố của chuyện nhân gian tạo thành quan hệ đối ứng. Chỉ cần có thể phân tích ra một cách chính xác mối quan hệ giữa 2 điều đó, thì có thể suy đoán một cách chính xác hệ thống tín hiệu nhân quả của sự việc hoặc hiệu ứng của họa phúc cát hung. Cho nên, cần làm rõ:
1. Trong cuộc sống thực tế, tất cả các sự kiện phát sinh đều có yếu tố cấu thành.
2. Ý nghĩa dấu hiệu được sử dụng trong Tử Vi Đẩu Số.

Chính là công phu căn bản của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số. Lại tiến thêm một bước nữa để nghiên cứu mối quan hệ giữa 2 cái đó, giúp cho dung hợp khởi sinh, đem “Mệnh bàn” kết hợp với “Mệnh mình”, là có thể “Thiên Nhân hợp nhất”, đó là đỉnh cao nghiên cứu huyền cơ tạo hóa của mệnh vận. Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số phải chính xác rõ ràng:
Trong cuộc sống thực tế, yếu tố hợp thành của nơi phát sinh sự kiện cùng với các dấu hiệu được sử dụng trong Tử Vi Đẩu Số là có liên quan, ý nghĩa, cùng mối quan hệ đối chiếu giữa chúng. Rốt cuộc các dấu hiệu trong Đẩu Số cùng những yếu tố cấu thành của những sự kiện nhân gian sau đây có mối quan hệ đối ứng như thế nào giữa chúng:
1, Nguyên nhân: Liên quan tới, người, địa điểm, sự vật.
2, Thời điểm phát sinh hoặc quãng thời gian phát sinh
3, Sự tình
4, Mức độ nghiêm trọng của cát hung

Người viết đã đưa ra một quy tắc lý giải, hi vọng bạn đọc cũng có thể để tâm tìm kiếm, mọi người chung sức mới có thể khiến cho quy tắc của 52 vạn lá số khác nhau được sắp xếp hoàn thiện. Nếu như có thể tìm ra thì công lực đoán mệnh liền sẽ đạt tới cảnh giới xuất thần nhập hóa.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Quan hệ sự kiện nhân quả, hình tượng cùng kí hiệu trên mệnh bàn


Hồi xưa, sau lần đầu tiên tôi tiếp xúc với Tử Vi Đẩu Số, đã từng nghe thầy tôi luận cho một người bạn rằng: Một khi ngươi chuyển nhà, thì tiền tài sẽ đến.
Quả nhiên đúng như thầy tôi đã nói, ở trong cái câu luận đoán này:
Việc chuyển nhà và cung Điền Trạch có liên quan.
Tiền tài và cung Tài Bạch có liên quan.

Trong mệnh bàn thì 2 cung Điền Trạch và Tài Bạch chia thành 2 cung vị khác nhau, làm thế nào mà lại có thể đưa ra lời suy đoán như vậy? Giả sử không chuyển nhà thì tiền tài có đến hay không?

Rốt cuộc thì mối quan hệ của 2 việc chuyển nhà và tiền tài là dựa vào dấu hiệu nào để để liên kết? Mấy vấn đề này quả thật đã gây trăn trở khắc sâu trong tôi, trình độ đoán mệnh của ông, thực sự là vượt xa hết thảy nội dung bề nổi được bàn luận trong các sách vở.

Chuyện rằng, đồ đệ của Trần Hi Di đã từng đoán cát hung cho chồng của một phu nhân, nói rằng mau mau về nhà, chuẩn bị hậu sự cho chồng, phu nhân vừa nghe, đương nhiên khóc sướt mướt chạy về, trên đường gặp phải Trần Hi Di, liền hỏi nàng tại sao lại khóc? Đem sự tình kể lại, Hi Di tiên sinh tính toán, bèn bảo nàng yên tâm, chỉ cần theo lời của ông, quay về hãy nấu một nồi cháo lớn, sau đó nói với hàng xóm rằng chồng cô muốn trở lại dùng cơm, kiếp nạn này sẽ được hóa giải, quả nhiên, chồng cô an toàn trở về.

Việc ăn cháo và nói với hàng xóm rằng chồng cô sẽ trở lại dùng cơm, cùng với an nguy của người chồng liệu có liên quan? Có hay không sự tình ẩn giữa hai việc đó, có cái khéo của sự “dị khúc đồng công” (cùng nốt nhạc nhưng trong giai điệu khác nhau, ý nói về sự trùng hợp khéo biến tấu)?! Nhìn như thể sự vật hiện tượng không liên quan, ấy vậy mà lại hội họp rồi sản sinh ra tính liên kết rất mật thiết, cũng bởi vậy có thể chứng minh trong mười hai cung, không có nhàn cung, giữa chúng đều có mối liên hệ nào đó, hơn nữa lại ảnh hưởng lẫn nhau, ảnh hưởng đến số phận con người.

Những điều ấy biểu thị rằng giữa các dấu hiệu Đẩu Số cùng các sự kiện trong nhân gian có mối liên hệ rất chặt chẽ, thế nhưng rốt cuộc giữa chúng là loại quan hệ gì? Không nắm rõ được nó, thì cũng không có ai thảo luận, chỉ mới thấy việc dựa vào phú văn và tổ hợp tinh hệ tọa thủ trong cung để làm căn cứ luận mệnh mà thôi. Về sách vở dùng phép luận Tứ Hóa thì trễ tới năm 1985 mới công khai cho hậu thế, nhưng cũng chỉ biết là phi tới phi lui, chẳng biết đến quy tắc cùng phương pháp của nó. Có rất nhiều người xem, cũng không nắm được những cái sách nói, mới kêu toáng lên, nhưng thật ra là họ không hiểu được cơ cấu quan hệ của "Phi Tinh" Tử Vi Đẩu Số luận mệnh. Ví như là đem công thức thuyết tương đối của Einstein cho trẻ con đọc và khán mệnh vậy, trẻ con vốn căn bản không hiểu độ phức tạp này kia của nó, còn tưởng là đống "giấy vụn" đấy!

Ta thử kết hợp chuyện sinh hoạt hàng ngày cùng với mối quan hệ của kết cấu ký hiệu trên mệnh bàn, sử dụng các câu văn dễ hiểu mà phân tích cơ cấu lý luận Đẩu Số, mong có thể giải ra quan hệ giữa chúng, chính là thành lập một bộ cơ cấu lý luận có tính khoa học phù hợp cho việc nghiên cứu Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số, dẫn đường cho mọi người tiến vào cánh cửa nghiên cứu Tử Vi đúng đắn.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Các kí hiệu trên mệnh bàn & các sự kiện nhân gian có mối quan hệ tương hỗ nhau.


Mỗi môn học thuật đều có hệ thống lý luận hoàn chỉnh chặt chẽ làm cơ sở thì mới có thể tồn tại lâu dài và ngày càng thêm đổi mới được. Ví dụ như, cơ sở lý luận của Thủy động học, yếu quyết ở việc nghiên cứu quan hệ giữa các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, thể lưu thể tích, mật độ, biến thiên dòng chảy. Trải qua nhiều năm phát triển đã thành lập cơ sở lý thuyết, nó có thể miêu tả sự biến đổi của các dòng chảy rất nhỏ hoặc áp suất của từ trường, gây nên tình trạng biến hóa lưu động.

Còn cơ sở lý luận của Tử Vi Đẩu Số dựa trên những yếu tố: Thời Gian, Không gian, Sự kiện, để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự biến động của Người -Việc – Lúc – Nơi - Vật đối ứng với Hiệu ứng phát sinh tiến lui lần lượt ra những cát hung họa phúc. Được dùng từ thời triều Tống đến nay, đã hơn ngàn năm, vẫn phổ biến trong tầng lớp trí thức, thảy đều vui vẻ thảo luận chấn hưng chỉnh lý học thuật, đủ thấy là có lý do tồn tại, nếu như không chính xác thì đã sớm sau một thời gian nghiệm chứng mà tan thành mây khói.

Thế nhưng từ cổ chí kim, chưa từng có một cuốn sách Tử Vi Đẩu Số nào thảo luận tới vấn đề cơ cấu lý luận của Đẩu Số. Tất cả các sách cổ để lại toàn ghi chép về khẩu quyết, phú văn, biểu hiện bên ngoài của tổ hợp tinh tú về hiệu ứng cát hung của chúng. Nếu như căn cứ vào đó để luận mệnh thì 60~70% là sai lầm, thế nhưng lại thấy rất nhiều đại sư Tử Vi Đẩu Số đoán việc như thần. Cách sử dụng các phương pháp hình như không chỉ đơn thuần như những điều được ghi lại trong “Tử Vi Đẩu Số toàn thư”. Nhưng cũng không biết đó rốt cục là phương pháp gì, cứ tưởng rằng huyền học siêu hình nếu không có cái năng lực bẩm sinh về giao tiếp tâm linh thì khó có thể học giỏi Đẩu Số. Những cái đó, hết thảy đều là do cổ nhân có cái thói quen xấu là cứ giấu nghề, làm cho ảnh hưởng đến sự phát triển của môn Đẩu Số.

Bởi vì các yếu tố như Xã hội đã thay đổi và Sự tiến bộ của khoa học, cho nên về cái hình thức tư duy của cổ nhân so với người hiện đại cũng có thay đổi rất lớn. Trong quá trình học tập Tử Vi Đẩu Số, ngoài việc đọc thuộc các lời thơ phú do những bậc tiên hiền để lại, thì đối với tính khoa học ẩn hàm trong cơ cấu của chúng cũng cần phải được các bạn moi ra, gán thêm cho chúng những lý giải mang tính mới mẻ của thời đại. Đừng có cái kiểu bảo sao biết vậy, kẻo lại rơi vào trong tình trạng rập khuôn thông thái rởm, lại càng không nên bê nguyên xi vài ba câu phú văn rồi vênh mặt tự cho là mình đúng, chỉ có mình mới là vô địch thiên hạ.

Năng lực sáng tạo, đưa ra kiến giải mới, phù hợp với kiểu mẫu tư duy của người hiện đại, mới có thể khai sáng lại đẩu số, đọc qua vài ba cuốn sách cổ, thuộc lòng phú văn, không thể nói rằng đã hiểu đẩu số, phải đi lên từ căn bản, bắt đầu từ việc giải khai Tử vi đẩu số, mới có thể sáng tạo, từ đó phát dương quang đại.

Dưới đây là trình tự lý giải mệnh bàn người hiện đại cần cách tân tư duy khi học Tử Vi Đẩu Số.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn






Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 5 Members:

#9 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 14:31

CHƯƠNG 8: QUAN HỆ ĐỐI ĐÃI CỦA LỤC THÂN


Nhiều người khi đoán mệnh chỉ chú trọng vào Tam hợp cục Mệnh – Tài – Quan, mà quên đi sự ảnh hưởng đối với toàn bộ mệnh cục của các cung Phụ, Bào, Phối, Tử, Nô, Tật, Điền, Phúc. Trong các cung vị này, chỉ cần có lúc 1 cách cục nào đó lộ ra điềm hung tượng, thì dù cho kết cấu của Mệnh – Tài – Quan có mạnh đến đâu cũng vẫn sẽ sản sinh ra hiện tượng chuyển biến xấu rất lớn. Thí dụ như: cung Tật rất kém, Mệnh – Tài – Quan tuy là rất tốt, nhưng vẫn là cách cục “Tiền nhiều Sức yếu” đã tạo hình, sau này lúc nhiều tiền sẽ liền có điềm chết thảm hiện ra, lúc này thử hỏi nhiều tiền có ích lợi gì nữa đâu? Cho nên, đoán mệnh thì nhất định phải quán chiếu toàn bộ mệnh bàn, mới không bỏ qua nhân tố trí mạng, cho dù là chuyên gia về Đẩu Số cũng có lúc nhầm lẫn thiếu sót, là do nguyên nhân này.

Bởi vì con người là động vật sống tập trung, việc giao tế trong sinh hoạt hàng ngày, là hoạt động rất quan trọng, mọi thời khắc đều phải tiếp xúc với điều đó, cho nên nó sẽ ảnh hưởng đến phán đoán lựa chọn và hành vi biểu hiện của chúng ta, đương nhiên từ đó cũng sinh ra hiệu ứng cát hung họa phúc. Ví dụ: Mua nhà, bạn sẽ hỏi những người bạn có sự nghiên cứu về bất động sản về những vấn đề, khi nào thì cơ hội mua bán sẽ tốt nhất? phải lưu ý đến những điều gì? Mảnh đất nào tốt hơn? Có tiềm năng tăng giá trị tài sản lớn hơn?… đều sẽ đối với sự lựa chọn của mỗi cá nhân sản sinh ra một mức độ ảnh hưởng tương ứng, nếu có đề xuất tốt thì mới có thể sinh ra cái kết quả cát lợi.

Lại như, ở các phương tiện giao thông công cộng, lúc ấy thì an toàn tính mạng của bạn, thảy đều nằm trong tay của bác tài xế, có thể nói ông ta là người nắm giữ vận mạng của bạn, ông ta mà sơ suất thì hẳn là xe hỏng người vong. Tựa như các tình huống đi máy bay, xe hơi, ca nô,… thảy tính mạng của bạn đều do tài xế nắm giữ. Nếu cung Mệnh mà được tọa thủ bởi các sao kéo dài tuổi thọ, mà cung Nô cũng cát lợi, thì dễ kiếm được người tài xế tốt.

Phần lớn thời gian, vận mạng của đương số do chính họ nắm giữ, thế nhưng đôi khi người chủ của mệnh vận lại không tự quyết định được, bất kể là xuất phát từ sự tự nguyện hay gượng ép, có chọn lựa hoặc không thể lựa chọn, sẽ có lúc do người khác nắm giữ sinh mạng. Lúc đó, các cung lục thân trở thành cung vị rất trọng yếu, chỉ cần cung lục thân với đương số có trợ giúp, thì tai qua nạn khỏi, nếu cung lục thân bất lợi, thì nhất định phải để tâm kẻo cung lục thân bất lợi mang tới tai họa.

Trong môn Đẩu Số, thì cung Lục Thân là 6 loại cung vị:
1, Mệnh; 2, Bào; 3, Phối; 4, Tử Tức; 5, Nô; 6, Phụ

Lấy ngôn ngữ thời hiện đại mà nói, 6 loại cung vị này đại biểu cho mối quan hệ nhân tế. Người trong thiên hạ giao du gặp gỡ chú trọng thành tín, giả như trong cung vị nói trên có các sao nhu thuận tọa thủ không Sát tinh, thì đối với các đối tượng giao du, thường là nhân sĩ đứng đắn, còn giả như Sát Kị trùng điệp, thì dễ giao du với bạn đểu hoặc gặp gỡ phần tử xấu, đương nhiên sẽ dẫn đến liên lụy, thương tổn.

Mặc dù trong mệnh bàn chỉ có 6 cung vị thể hiện giao tế bên ngoài, nhưng thực tế trong cuộc sống, còn rất nhiều mối quan hệ khác như:
1. Thuộc hạ, thủ hạ, công nhân
2. Thủ trưởng, quản lí
3. Học trò
4. Khách hàng, bạn làm ăn
5. Quản lý chính phủ, Quản lý hành chính nhà ở, cảnh sát
6. Thương nhân cung cấp hàng hóa (chỉ người bán hàng tiêu dùng trong cuộc sống)
7. Thầy giáo, quan trên
8 …
Các loại người kể trên, trong Đẩu Số vẫn chưa có cung vị biểu thị họ, nhưng những người này đối với số phận chúng ta, lại tạo ra quan hệ rất mật thiết, ở thời điểm luận đoán cát hung, không thể bỏ qua lực ảnh hưởng của họ, thế nhưng ở trong mệnh bàn làm sao có thể biểu thị quan hệ nhân tế đó? Chính là phải dùng phương pháp Mượn cung.

Phần lớn mọi người sẽ tìm những người cùng tính cách và sở tích để làm bạn, đó là vật dĩ loại tụ, người không cùng một loại với ta thì ít qua lại. Vì vậy đối tượng ta tiếp xúc trong sinh hoạt hàng ngày, gần như là đã cố định tầng lớp rồi. Có người gặp gỡ bạn bè, đều là những người tương đối nhã nhặn, có phong độ trí thức, như vậy anh em trong nhà cũng sẽ có tính chất gần giống như vậy. Những mệnh tạo ấy, cung Nô Bộc (Giao Hữu) nhất định tọa các sao [Văn Xương, Văn Khúc], có chứa phong độ của người trí thức, mới có khuynh hướng này, bởi vì có những đặc tính đó tồn tại, nó sẽ tự giới hạn phạm vi quan hệ hợp tác của chúng ta, các đối tượng qua lại, cho nên ảnh hưởng tới tương lai tiền đồ.

Trong số liệu điều tra đã chứng tỏ, có tỉ lệ rất cao, những người gây dựng sự nghiệp thành công đều có rất nhiều các mối quan hệ nhân tế, đây được coi là nhân tố trọng yếu để thành công. Đó là lý do mà trong mệnh bàn của Tử Vi Đẩu Số, có 6 cung vị phụ trách mối quan hệ nhân tế của đương số với quần thể xung quanh, đủ thấy tầm quan trọng không kém hơn các cung Mệnh – Tài – Quan. Vì thế Lộc Quyền Khoa mừng nhất là rơi vào các cung lục thân, đại biểu cho việc đương số có thể được thân nhân, huynh đệ, bạn bè, khách hàng… trợ lực mà thành công phát đạt. Nếu như Lộc Quyền Khoa rơi vào trong các cung tam hợp Mệnh, thì hầu hết đều là nhân vật thanh cao có được sự kính trọng thâm sâu trong xã hội, nhân vật nắm quyền bính, như hiệu trưởng, cục trưởng, thẩm phán,….

Có người kiếm được rất nhiều tiền, nhưng lại thường xuyên bị hao tài tốn của, đều là bị phá ở cung vị Nô Bộc (Giao Hữu).
Có người năng lực rất bình thường, nhưng lại là người quan hệ rộng rãi bốn phương, được mọi người đề cử lên làm chủ tịch, đó chính là người mà có cung Nô Bộc tốt đẹp.
Có người tài trí hơn người, nhưng gặp ai cũng bị người ta ghét, tránh như tránh tà, vì thế bị rơi vào cô đơn buồn chán, chính là người mà Mệnh có các sao cô độc gây ra như thế.
Rất nhiều ví dụ thực tế, làm cho chúng ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng sâu xa của các cung lục thân tới số phận con người.

Cái mà lục thân cung đại biểu chính là mối quan hệ của [Ngươi với Ta, Ta với Người], vậy thì phải dùng những dấu hiệu nào biểu hiện cái mối quan hệ ấy? Lại còn phải dùng những dấu hiệu nào để biểu hiện các đặc tính của lục thân kia? Hai vấn đề này cần bàn luận tách rời ra, không nên lẫn lộn cái khác biệt giữa chúng.

Tinh đẩu tọa trong lục thân cung, đại biểu cho đặc tính của lục thân. Ví như: Huynh Đệ (Bào) cung có Thiên Tướng độc tọa, đại biểu rằng sau khi anh chị em của đương số được sinh ra, anh chị em của họ sẽ có đặc tính của sao Thiên Tướng hoặc cung Mệnh của họ vừa đúng có luôn sao Thiên Tướng. (*truyền tinh)

Muốn xem quan hệ đối đãi của anh em với đương số, thì phải xem Tứ Hóa từ Can cung Huynh Đệ xung chiếu hội nhập lên tam phương tứ chính của cung Mệnh mà định, tỉ như: Thiên Can của cung Huynh phi Hóa Lộc, Quyền, Khoa đều nhập vào các cung tam hợp Mệnh, thì cho thấy giữa anh em và đương số nhất định cùng chung chí hướng, tình cảm hòa hợp, yêu thương lẫn nhau. Còn nếu như là Hóa Kị xung Mệnh, nhất định là không hài lòng, anh em cách trở không có sự giúp đỡ qua lại (nếu xét tính nghiêm trọng thì phải phối hợp với Tứ Hóa năm sinh cùng các Sát tinh đồng cung để đưa ra quyết định).

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Quan hệ giữa ta cùng huynh đệ


Ở mỗi giai đoạn cuộc đời, trọng tâm cuộc sống đều không giống nhau:
Thời thơ ấu: lấy phụ mẫu, huynh đệ là chính, lấy việc học tập, giáo dưỡng là hoạt động chủ yếu.
Thời thanh niên: lấy phụ mẫu, huynh đệ, giao hữu là chính, lấy việc học tập, khai thác sự nghiệp, mở rộng quan hệ nhân tế là hoạt động chủ yếu.
Thời tráng niên: thoát li khỏi phạm trù phụ mẫu và huynh đệ, thành lập sự nghiệp và gia đình cá nhân, trọng tâm đặt ở quan lộc, tài bạch, phu thê, tử nữ, thiên di được đặt lên trên.
Thời lão niên: đã lão hóa, trí lực đều suy yếu, từ từ đem sự nghiệp truyền lại cho con cháu, sử dụng quãng đời còn lại để hưởng thụ thành quả đã vất vả phấn đấu, sinh hoạt trọng tâm đặt ở cơ thể khỏe mạnh, giao tế với gia đình, lão bằng hữu, là các mối quan tâm được đặt lên trên.

Đương nhiên trên đây chỉ là phân loại tổng quát, cung cấp cho ta sự tham khảo khi đoán mệnh, ở trong từng giai đoạn, ảnh hưởng kéo dài của quan hệ nhân tế là rõ ràng nhất. Đối với sự nghiệp có thể chuyển đi chuyển lại, ngành nghề có thể đổi đi đổi lại, nhưng nếu nhân tế quan hệ lộ ra một tấn rắc rối phức tạp, thì sẽ dây dưa không ngừng, từng phút từng giây gây ảnh hưởng lên chúng ta, ảnh hưởng đến mệnh vận, có thể nói [quyết định việc thành bại của số phận then chốt ở lục thân, mà không phải ở Quan Lộc hay Tài Bạch]; lúc thất thế, cần bằng hữu trợ giúp một phen; lúc sầu não không vui, muốn trải lòng tâm sự với bằng hữu cho nguôi ngoai; lúc thành công, muốn giúp đỡ bằng hữu; lúc thời cơ tốt tới, muốn cùng bằng hữu hỗ trợ nhau thực hiện; …. Những thứ này đều phải tìm dấu hiệu từ các cung lục thân, con người ta muốn làm sự nghiệp, muốn kiếm tiền, có rất nhiều đều dựa vào lục thân giúp đỡ mà thành công; đương nhiên cũng có nhiều trường hợp bị lục thân phá cho tan hoang.

Nói chung, không thể bỏ qua sự ảnh hưởng của các cung lục thân tới mệnh cục.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Bây giờ, đưa một ví dụ để thuyết minh:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Thế nhưng lục thân thì đông đảo mà Đẩu Số chỉ có mười hai cung, thực tế là rất khó phô bày từng cái, liền dùng nhưng người thuộc lục thân mà cùng đương số rất thân cận và có lực ảnh hưởng nhiều nhất gồm: thúc bá, ông bà, con dâu, nhạc phụ mẫu, anh em vợ, những người này đối với ta lực ảnh hưởng cũng lớn, thế nhưng trong mười hai cung tìm họ ở cung vị nào?

Đến đây thì ta áp dụng khái niệm [mượn cung], các nhân tố khác như: phía đối tác, khách hàng, đi làm công ty hoặc phân xưởng, thủ trưởng, đối tượng ngoại tình… tất cả, đều có thể nhìn thấu qua mười hai cung bằng phép mượn cung, dùng nó để suy đoán sự tình ẩn chứa trong cung vị đại biểu cho sự vật.

Phép [mượn cung] chính là dùng một cung trong mệnh bàn để biểu thị cho một hiện tượng của nhân sự không tồn tại ở mười hai cung cố định trong mệnh bàn. Ví dụ như cung Bào có thể mượn cung để trở thành Mẫu cung (cung mô tả mẹ đẻ của đương số) bởi vì khi lấy cung Phụ Mẫu gốc làm cung Mệnh, thì cung Bào gốc trở thành cung Phu Thê của cung Phụ Mẫu gốc. Và nguyên do cung Bào gốc chính là cung Phụ Mẫu của cung Phu Thê gốc chính là bởi vì đặt cung Phu Thê gốc làm cung Mệnh, thì cung Bào gốc lại trở thành cung Phụ Mẫu của cung Phu Thê gốc, nếu mệnh đang xét là nữ, thì cung Bào của đương số cũng chính là đại biểu cho cha mẹ chồng, nếu là nam mệnh thì cung Bào của anh ta chính là đại biểu cho bố mẹ vợ. (chú: đây là phép “cung chức hoán vị” được giải thích tường tận trong sách “Trung Châu tử vi đẩu số - Tứ hóa phái” của tác giả Nguyễn Anh Vũ, mời tìm đọc)

Ví dụ: Muốn luận đoán tình huống của đương số đi làm công ty hay tự kinh doanh, có thể dùng cung Tật Ách để xét, bởi vì lấy vị trí nhà cửa (như cung Điền Trạch) của nơi chốn đi làm (là chỗ của Quan Lộc) - tức là vị trí của nhà xưởng hoặc công ty. Nếu phải xem hành vi của vợ chồng (tức là sinh hoạt tình dục), thì dùng cung Phúc Đức để đại biểu, cũng vì cung Phúc Đức cũng chính là cung Quan Lộc của cung Phu Thê, lại vừa có thể dùng nó để luận về sự nghiệp của vợ-chồng. Cho nên nói Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số không có [Nhàn cung], bởi vì mỗi một cung vị đều rất trọng yếu, ứng dụng biến hóa các hoạt bàn của chúng, mọi người cứ tưởng tượng xem thế nào nhé. Chúng có thể phác họa những thứ bên ngoài mệnh bàn qua phép mượn cung trong Tử Vi Đẩu Số như sau:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 3 Members:

#10 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 14:40

CHƯƠNG 9: NGŨ HÀNH VÀ TÍNH MIẾU HÃM LỢI VƯỢNG CỦA CÁC SAO


Trong sách “Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư” có cái gọi là kiến giải về [Miếu, Hãm, Lợi, Vượng] nói rõ rằng một ngôi sao nào đó rơi vào một cung vị Địa Chi nào đó thì là miếu vượng cho nên những đặc tính tốt của sao ấy hoàn toàn được hiển lộ; Còn rơi vào một cung vị Địa Chi nào đó hãm địa thì tính chất tốt của sao sẽ bị kìm nén đến nỗi sẽ biểu hiện các đặc tính tiêu cực. Điều này nói lên rằng tính chất các sao cùng với cung vị Địa Chi mà nó rơi vào có một mối quan hệ rất lớn. Chương này sẽ giải thích rõ ràng về nhân tố mang tính quyết định đối với đặc tính của các sao thay đổi thế nào khi rơi vào các cung vị khác nhau, mối quan hệ âm dương ngũ hành chế hóa.

Cổ nhân cho rằng, từ Ngũ Hành mà diễn sanh ra vạn vật, thông qua bát quái Càn, Khôn, Cấn, Đoài, Chấn, Li, Tốn, Khảm tác dụng lẫn nhau mà tạo thành thai nghén, sinh trưởng, diệt vong, hết thảy các Sự các Vật trên đời đều do năm loại nguyên tố này tạo nên. Đương nhiên trong cái gọi là “Sự” là đã bao gồm số phận con người trong đó, do vậy đã suy diễn ra một bộ tư tưởng triết học có cơ sở là Âm Dương Ngũ Hành, viện dẫn vào để giải thích các hiện tượng tự nhiên, mà cơ sở lý luận của Ngũ Thuật cổ đại gồm Sơn (tu tiên), Y (y dược), Mệnh (bát tự, đẩu số, hà lạc), Bốc (lục hào), Tướng (nhân tướng) cũng đều kế thừa hệ thống tư tưởng triết học này.

Rốt cuộc ngũ hành là gì? Chính là chỉ - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ - 5 loại nguyên tố này sẽ tác dụng lẫn nhau mà xuất hiện các hiệu ứng Sinh, Khắc, Chế, Hóa. Trên đời vạn sự vạn vật đều diễn sanh trong quá trình Ngũ Hành tương hỗ, đương nhiên tất cả hoàn cảnh sinh tồn của mọi sinh vật cũng đều chịu ảnh hưởng của Ngũ Hành biến hóa. Cho nên từ sự tôn trọng sùng bái tự nhiên đó, cổ nhân liên tưởng vận mệnh của con người cũng bị chịu ảnh hưởng, do đó các môn mệnh lý học truyền thống như các môn:

Tử Bình Bát Tự, Tử Vi Đẩu Số, Kỳ Môn Độn Giáp, Thái Ất Thần Số.
Bất kể loại nào hay công phu cao thấp thì cũng đặt quan hệ của Ngũ Hành sinh khắc chế hóa lên đầu, làm cơ sở để tìm hiểu vận mạng cát hung họa phúc.

Rốt cuộc đặc trưng của Ngũ Hành là gì? Ta có thể từ Ngũ Hành ở hình tượng thiên nhiên mà giải thích đơn giản:
Kim: Đại biểu cho sự sắc bén, ý tứ tấn kích.
Mộc: Đại biểu cho sự phát triển, ý tứ hướng lên / hướng về phía trước.
Thủy: Đại biểu nguội lạnh, lưu động, khuếch tán, ý tứ tự do.
Hỏa: Đại biểu cho sự hao tổn, phóng xạ, ý tứ nhanh chóng.
Thổ: Đại biểu cho sự gom lại, dày nặng, ý tứ khoan dung.

Trên phương diện ứng dụng của mệnh lý học, có thể tiếp thu những hàm nghĩa của chúng mà giải thích [sự vật] cho thuận, nói thí dụ như “cảm xúc”:

Thủy, tượng trưng cho sầu bi: bởi vì nó lắng đọng, nhu thuận, có ý nhẫn nhục chịu đựng, như: Nước dài dằng dặc tức là có ý ai oán.
Mộc, tượng trưng cho vui thích: lấy cái ý của sự hướng lên, sự phát triển, bày ra, như: Mắt trong thấy bốn năm ngọn núi xanh mướt ánh trăng thì chả phải là bạn cũng cảm thụ được niềm vui của sự phát triển thế giới tự nhiên đó ư?
Hỏa, tượng trưng cho hạnh phúc: Bởi có tực phát xạ, bộc lộ công năng, như: Nhiệt tình như lửa, hay dùng “Hỏa” để hình dung về cảm tình.
Thổ, tượng trưng cho dục vọng: bởi vì có ý bao dung tích trữ, có năng lực gánh vác hết thảy mọi sự vật.
Kim, tượng trưng cho phẫn nộ: vì kim đại biểu cho bén nhọn, ý tứ tấn kích, ví như người nếu tức giận thì lời nói cũng trở lên gay gắt.

Chúng ta thường nghe người ta nói đến bốn chữ “Sinh - Khắc - Chế - Hóa”, kỳ thực là phân biệt bốn loại quan hệ ảnh hưởng của Ngũ Hành.

Mối quan hệ của [Sinh]:
Mộc sinh Hỏa: dùng củi gỗ để lấy lửa.
Hỏa sinh Thổ: lửa đã cháy hết, tan thành mây khói, biến thành cát bụi.
Thổ sinh Kim: trong đất tích chứa nhiều loại tài nguyên, các mỏ kim loại chôn sâu trong lòng đất, tựa như là Thổ sinh Kim.
Kim sinh Thủy: Buổi sáng sớm, thấy món hàng kim loại để trong sân mà không che đậy, sẽ xuất hiện hạt nước, tựa như là buổi đêm kim loại sinh ra nước, điều này là do cổ nhân hiểu lầm nguyên nhân sinh ra hạt nước, nhưng lấy làm ví dụ thì cũng tốt.
Thủy sinh Mộc: Cây cối phải dựa vào nước để tẩm bổ, mới có thể tồn tại duy trì phát triển, nở hoa kết trái, cây cối không nước tất nhiên héo rũ.

Mối quan hệ của [Khắc]:
Mộc khắc Thổ: Rễ cây cắm vào lòng đất, sinh ra các nhánh nhỏ để giành lấy dưỡng chất, khiến cho cây cối vững chãi không rung.
Thổ khắc Thủy: ta có thể dùng đất dễ dẫn hướng chảy dòng sông, cũng có thể dùng đất đắp đập cản nước, dùng cản dòng chảy lưu động của nước.
Thủy khắc Hỏa: xảy ra đám cháy, đội cứu hoả dùng nước phun vào để dập lửa.
Hỏa khắc Kim: Dùng lò lửa nung chảy kim loại.
Kim khắc Mộc: Dùng kim loại chế các công cụ gia công gỗ, cũng có thể đốn gỗ.

Mối quan hệ sinh khắc có thể dùng đồ hình để biểu thị, theo vòng cung là quan hệ Sinh, theo hình ngôi sao là chỉ quan hệ Khắc:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Mệnh bàn của Tử Vi Đẩu Số có mười hai cung Địa Chi, mỗi Địa Chi có thuộc tính Ngũ Hành riêng (mời tham khảo đồ hình mệnh bàn trống phía dưới), mỗi Địa Chi cũng phân Âm Dương, như Tí thuần dương thủy, Sửu thuần âm thổ, Dần thuần dương mộc, Mão thuần âm mộc,… cứ thế, tất cả phân ra mười hai thuộc tính âm dương ngũ hành khác nhau. Lại đem phối với các sao trong Đẩu Số, do các sao cũng khác nhau về thuộc tính âm dương ngũ hành, cho nên khi rơi vào các cung sẽ tạo ra ảnh hưởng khác nhau về Sinh Khắc Chế Hóa. Nếu có nhiều sao đồng cung, đương nhiên cũng sẽ sinh ra quan hệ giữa các sao, cho nên biến hóa vô cùng, làm cho người mới học đau đầu hoa mắt. Nhưng mà nếu có thể nắm giữ nguyên lý của “Cô âm bất trưởng, cô dương bất sinh”, “Âm dương hợp, vạn vật sinh”, “dương khắc dương vô tình, âm dương tương khắc hữu tình” là đã có thể lý giải hơn nửa mối quan hệ sinh khắc chế hóa rồi.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Lấy [Thiên Cơ] làm ví dụ, Thiên Cơ là Ất mộc là Âm mộc, cho nên mừng khi gặp Dương thủy đến tương sinh, cho nên nếu nhập cung vị ở [Tí] là chỗ miếu vượng, bởi vì [Tí] thuần Dương thủy đến sinh cho Thiên Cơ là Âm mộc, tính chất cát tường của Thiên Cơ hoàn toàn được phơi bày, nếu nhập vị trí [Hợi] cung cũng là Thủy nhưng lại là Âm thủy, mà Âm thủy sinh Âm mộc, âm khí quá nặng phản chuyển lại sẽ không ổn. Thiên Cơ nhập vị trí cung [Mão] là Âm mộc, gọi là [quy vị], là về đúng vị trí ban đầu, cho nên càng phơi bầy mặt cát lực, Thiên Cơ – Cự Môn đồng cung tại Mão so với đồng cung tại Dậu thì cát lợi hơn, vì Dậu cung thuộc Kim khắc Mộc, do đó mà bất lợi.

Mối quan hệ của [Chế]:
Kim khắc Mộc được Hỏa chế: bởi vì Kim khắc Mộc, nếu được lửa tới kìm chế kim khí thì hung tính của Kim sẽ không lộ ra, hung lực giảm thiểu, khiến cho Mộc không bị tổn thương do Kim khắc nữa.

Hỏa khắc Kim được Thủy chế: vì Hỏa khắc Kim, nếu được nước tới áp chế thì vượng hỏa sẽ chịu kìm chế, mà Kim đang bị Hỏa khắc liền thành ra được dịu đi.
Thủy khắc Hỏa được Thổ chế: Đất có thể ngăn cản được cái thế của nước, nên Thủy bị kìm chế, cho nên ngọn lửa không đến mức chịu nước mà tắt.
Thổ khắc Thủy được Mộc chế: Thổ khắc Thủy, mà Mộc lại khắc Thổ, cho nên cái hung lực của Thổ khắc Thủy sẽ vì Mộc khắc Thổ mà được chế.
Mộc khắc Thổ được Kim chế: rễ cây thâm nhập trong đất, nếu sử dụng kim loại chém bớt rễ cây, khiến cho cây sinh trưởng chậm lại, thành ra Thổ bị Mộc khắc sẽ dịu xuống.

Mối quan hệ của [Hóa]:
Kim khắc Mộc được Thủy hóa: Lấy búa rìu cắt cành cây, lại tưới nước trợ giúp mộc lớn, vẫn có thể nảy nở ra cành lá mới.
Mộc khắc Thổ được Hỏa hóa: Rễ cây đâm vào trong đất bắt lấy bùn đất, dùng lửa đốt thân cây, khiến cho cây cối nhất định phải chữa trị bị thương của thân cây, làm cho thổ không đến nỗi bị mộc khắc hại quá sâu.
Thủy khắc Hỏa được Mộc hoá: Nước sẽ tưới tắt lửa, nhưng nước cũng sẽ đi sinh cây, cho nên thế nước yếu ớt mà không đến nỗi khiến cho thế lửa bị tắt.
Hỏa khắc Kim được Thổ hóa: Lửa có thể làm cho kim nóng chảy, nhưng hỏa vừa có thể sinh thổ, bởi vì thế Hỏa cần phân thân đi sinh thổ, cho nên thế hỏa chuyển sang yếu đi mà không đến nỗi hại kim quá.
Thổ khắc Thủy được Kim hóa: Thổ khắc Thủy nhưng cũng có thể sinh Kim, Kim có thể sinh Thủy, cho nên dẫn thông bất trệ, cũng có tiết chế không có ý phù phiếm.

Ví dụ: Thiên Tướng là Quý Thủy thuộc Âm Thủy, nhập cung Sửu là Âm Thổ, cho nên Thổ khắc Thủy. Giả như lại có Kình Dương cũng rơi vào cung Sửu, tức hiện ra cục [Thổ khắc Thủy được Kim hóa]. Thành thử, lúc ấy Kình Dương không được lấy hung mà luận, Thiên Tướng thủy ngược lại vì có Kình Dương trợ giúp mà dẫn thông bất trệ.

Âm Dương, Ngũ Hành, Sinh Khắc Chế Hóa trong Tử Vi Đẩu Số trên phương diện đoán mệnh, nông thì có thể thấy sự biến hóa tính chất của tinh tú trong cung Địa Chi, đi sâu mà nói có thể quan sát duyên phận với lục thân, sự nghiệp tiền tài vượng tướng hưu tù. Cho nên học giả không được quên ảnh hưởng của Âm Dương Ngũ Hành, để tiện cho độc giả tra cứu, tác giả đã đem Âm Dương Ngũ Hành của 28 chủ tinh cùng các tính chất giản lược của chúng liệt kê ở đồ hình 3.

Từ mối quan hệ Âm Dương Ngũ Hành Sinh Khắc Chế Hóa phối hợp tính chất Ngũ Hành các sao với Ngũ Hành cung vị ở hình 3 và hình 2, có thể suy ra hiện tượng cát hung nếu chúng đồng thời lúc có hai sao đồng cung.

Lại nói, 12 cung Địa Chi và sự khác nhau của năm sinh mỗi cá nhân sẽ có tổ hợp can chi khác nhau, cái tổ hợp này sẽ sinh ra Ngũ Hành khác nhau, ví dụ cung Mệnh là [Mậu Tý] thuộc Dương Hỏa, cung Phu Thê là [Bính Tuất] thuộc Dương Thổ, cung Phụ Mẫu [Kỷ Sửu] thuộc âm hỏa, v.v… những cái này là thuộc Hậu Thiên, mà Ngũ Hành của mệnh bàn trong hình 2 là Tiên Thiên Ngũ Hành, giả sử có một mệnh tạo Thiên Cơ rơi vào cung Tý, do thủy sinh mộc, cho nên Thiên Cơ vượng tướng, nếu xét đầy đủ can cung [Mậu Tý] thuộc hỏa, mất đi cái khí thủy sinh mộc, tính chất tốt đẹp của Thiên Cơ bị ức chế mà không thể phát huy, ta có thể giả thích: mệnh tạo được có tư chất thanh quý, tiếc vì hậu thiên hành vận ngang trái, khó có thể giữ được sự thanh quý ấy, hoặc khó có thể phát triển. Đây là sự giải thích khi luận mệnh cách, nhưng Ngũ Hành Nạp Âm cũng sẽ ảnh hưởng đến thành tựu của đời người, cho nên khi ứng dụng thực tế phải phân biệt rõ ràng 2 cái loại Ngũ Hành ấy.

Cho nên, khi suy xét quan hệ sinh khắc âm dương ngũ hành, cần phải xét ba hạng quan hệ dưới đây:
1, tính chất âm dương ngũ hành của sao, … Như hình ba đã nêu.
2, tính chất âm dương ngũ hành của cung vị tiên thiên, … Như hình 2 đã nêu.
3, tính chất âm dương ngũ hành của cung vị hậu thiên, … Tức là khởi từ cung Dần trở đi, các cung Địa Chi phối với Thiên Can cho Nạp Âm Ngũ Hành, ví dụ như Canh Tí tức thuộc Thổ cục.

Các cung ngũ hành lấy thanh thuần, tương sinh là thượng cục, tối kỵ pha tạp, lẫn lộn không rõ, nếu vậy ắt khí bất minh, thần không tỏ, không được lấy cát luận, ví như tính cách của người tráo trở đảo điên.

Tứ Hóa là đầu mối then chốt của biến hóa trong đẩu số, nếu cung nào đó có tứ hóa nhập vào – nó sẽ hòa với tính chất vốn có của các sao để sinh ra biến hóa [sinh, khắc], từ đó thay đổi tính chất vốn có, cho nên Tứ Hóa bay vào cung vị, muốn luận giải tường tận thì không thể đơn thuần dùng tính chất các sao ban dầu, điểm này phải đặc biệt lưu ý.

Trong khi luận về lục thân, so sánh quan hệ ngũ hành của cung lục thân và mệnh là sinh hay khắc, nếu tương sinh thì nhân duyên tốt, nếu tương khắc thì có thể nói là duyên cạn. Cái này ứng dụng vào việc khán quan hệ lục thân, thì đối với các vấn đề sự nghiệp, tiền tài cũng có thể phỏng theo đó để mà giải thích.
Kết luận: Sự phức tạp của mối quan hệ Ngũ hành như thế nào:

35]· Cung vị

35]· Tính chất sao

35]· Ngũ hành hậu thiên


Kết hợp các yếu tố đó, tính toán cân nhắc tỉ lệ, thật sự không phải chuyện dễ, cho nên, người viết chỉ lấy cung vị, quan hệ tính chất khắc chế hóa của các sao, phân biệt miếu hãm lợi vượng là được. Về lực ảnh hưởng của hậu thiên ngũ hành, chỉ cần cân nhắc sơ qua sự tăng mạnh hoặc yếu đi tính chất của các sao mà thôi, nếu các vị độc giả ứng dụng, không ngại khảo sát thì hãy nhìn lực ảnh hưởng, sau đó quyết định sử dụng hoặc bỏ qua.

Theo kinh nghiệm của tác giả, ngũ hành của cung và sao có tác dụng đan xen lẫn nhau, quả thực sẽ ảnh hưởng tính chất sao, sẽ sinh ra tính chất sao miếu hãm lợi vượng như đã nói, nhưng điều đó không có nghĩa là nếu có sao miếu vượng tọa mệnh, thì tốt số, hoặc nếu sao hãm tọa mệnh thì sẽ xấu, tính chất sao mặc kệ là miếu vượng hay lạc hãm, đều chỉ đại biểu một đặc tính cá nhân mà thôi, khi lấy tính chất sao để luận đặc tính người, đây chỉ là nhân tố tham khảo không tránh khỏi sơ sót.

Về nguyên nhân chính làm biến chuyển tính chất sao, thì thấy ngoại trừ ngũ hành ảnh hưởng, còn có lực ảnh hưởng rất mạnh của chính tinh đồng cung, phụ tinh, sát diệu. Vì thế nếu luận về tính chất tinh đẩu thì không thể cố chấp dựa vào ngũ hành sinh khắc chế hóa giữa sao và cung, lực ảnh hưởng của các sao đồng cung cũng cần lưu tâm.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn





Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Tinh tú biến hoá



Thanked by 3 Members:

#11 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 14:53

CHƯƠNG 10: TỔ HỢP SAO ẢNH HƯỞNG TỚI VẬN THẾ


Ở trên trình bày đều là mối quan hệ của mệnh bàn, chỗ khởi phi Tứ Hóa, bay vào cung vị, tựa hồ như bản phái trình bày và phân tích chủ đề đều xoay quanh Tứ Hóa, mà không xét đến trạng thái của tổ hợp sao!

Kỳ thực không phải vậy, tổ hợp các sao của các cung cũng sẽ biểu hiện ra hiện tượng nếu rơi vào “thời cơ thích hợp”. Thế nhưng, những hiện tượng này đều là độc lập, và các cung vị khác nhau sẽ không sản sinh ra quan hệ tác động lẫn nhau, ví dụ: Vũ Khúc Phá Quân cùng tọa ở cung Tật Ách của Lưu Niên, sẽ có hiện tượng bị đau răng.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Chú thích: Cũng không phải cứ cách 12 năm đều sẽ phát sinh tình huống tương đồng, mà vẫn phải phối hợp với những điều kiện khác, ở đây tổ hợp hai sao đó là chủ đau răng [điều kiện phối hợp xin mời đọc kĩ thuyết minh trong sách này]

Phương pháp xem mệnh mà đại loại như dựa vào các bộ sao tổ hợp trong cung nào đó sẽ sinh ra một loại hiện tượng nào đó là thuộc về mức độ thống kê quy nạp. Trong cuốn Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (do Trúc Lâm thư cục xuất bản) có rất nhiều kinh nghiệm luận mệnh của cổ nhân, như: Thái Vi phú, Cốt Tủy phú, Chư Tinh vấn đáp,.. đều có nói tới hiện tượng này do tổ hợp sao kia hình thành… ở đủ các cung để tham khảo.

Cho nên, đối với phương pháp Xem (khán) mệnh thông qua tình hình các tổ hợp sao trong cung [chú ý là Xem (khán) mệnh chứ không phải Suy Đoán (thôi) mệnh], cũng không được bỏ qua, phải xem xét cân nhắc cả hai yếu tố, tương hỗ lẫn nhau, thì việc luận đoán càng thêm chuẩn xác. Do việc phương pháp xem tổ hợp sao lấy hình tượng hiển lộ rõ để nhận định, là hình thái độc lập ở mỗi cung, khá đơn giản, mà trong sách cổ đều có nói tới, cho nên tôi ít miêu tả lại ở đây. Để kiến lập hệ thông nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số chính xác và hoàn chỉnh, trong chương này sẽ bàn luận tới việc các tổ hợp sao trong cung, đối với hành vận sẽ ảnh hưởng thế nào.

Lúc quan sát tổ hợp sao, xét các tình huống sinh ra lực ảnh hưởng sau đây, nhất định phải cân nhắc kĩ lưỡng:
- Do các sao nhập vào Đối cung – cát tinh thì có trợ lực, hung tinh thì tai hại, tối kỵ hợp thành cách cục hung ác.
- Do các sao nhập vào các cung Tam hợp – cát tinh thì có trợ lực, hung tinh thì tai hại, tối kỵ hợp thành cách cục hung ác.
- Các sao nhập vào lân cung giáp ở hai bên trái phải – cát tinh thì có công dụng phụ tá, lực phù trợ, còn sát tinh thì là cái ý nghĩa về sự kìm kẹp áp chế.

Đại Hạn thay đổi, khi từ cung Mệnh trong mệnh bàn nguyên thủy (lá số gốc) chuyển tiếp sang cung bên cạnh, thì 11 cung còn lại cũng phải dịch chuyển theo, cái mệnh bàn sau khi dịch chuyển ấy được gọi là mệnh bàn (lá số) của Đại Hạn.

Lấy cung Mệnh làm chủ, đại biểu cho chủ nhân mệnh bàn là “Ngã” – là ta, bởi vì sự thay đổi của Đại Hạn mà khiến cho cung Mệnh cũng theo đó thay đổi vị trí, ví như hoàn cảnh sinh trưởng của con người cũng thế, thời gian trôi qua, hoàn cảnh cuộc sống cũng như tâm tư tình cảm, suy nghĩ, cũng sẽ biến đổi. Mệnh bàn của Đại Hạn chính là thuận theo năm tháng thay đổi mà biến hóa hoàn cảnh sinh trưởng. Từ những phân tích của thời sự đài báo, hành vi phạm pháp của con người, rất liên quan đến vấn đề gia đình có bối cảnh thế nào, ví dụ sau khi lớn lên trở thành hung thủ sát nhân, đều là do hoản cảnh biến thiên mà ảnh hưởng tới số phận.

Tương tự như vậy, giả sử cung Mệnh của Đại Hạn là một tổ hợp sao rất dở, như: Tham Lang ở cung Hợi (không bàn đến Thiên Can của cung), trong phú văn có câu: “Tham Lang cư Hợi Tí, danh viết phiếm thủy đào hoa”. Khi đi vào Đại Hạn này, sẽ bị tổ hợp sao nơi đây ảnh hưởng, khiến đương số trở thành cái loại đam mê tửu sắc (kể cả nữ nhi cũng vậy), những chuyển biến này ở các Đại Hạn sau cung Hợi sẽ giảm bớt, do người này đã có thói quen ham ăn biếng làm, cho nên đối với tâm tính ngày sau, nó vẫn sản sinh ít nhiều ảnh hưởng, cho nên chỉ có thể nói là giảm bớt mà thôi.

Lại giả như, trong tổ hợp cung đó, có chứa Thiên Không (Địa Không), Thiên Hình đồng cung, thì lại giảm nhẹ, “Tưởng tượng” mà thôi (í chỉ tưởng tượng thôi ko dám làm), nhưng nếu lại hội Đà La, Thiên Diêu các dâm tinh này nhảy vào, thì tình hình càng nghiêm trọng hơn, nên mới có cái câu: “Liêm Trinh Tham Lang cư Hợi Tí, lại phùng Đà La, Thiên Diêu, vô môi tự giá, ngoắc thành hôn”. Do đó, nếu quan sát trạng thái của một tổ hợp sao, phải đặc biệt lưu ý tới tất cả lời bình luận của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, kết hợp với việc xem xét cân nhắc các tình huống sát diệu đồng cung, các phụ tinh mà phán xét mức độ nghiêm trọng gia giảm ra sao. Hãy tham khảo tính chất của các sao trong Chư Tinh vấn đáp cùng đẩu số phú văn, trong đó cổ nhân đã cung cấp rất nhiều loại cách cục, lời bình cho các tổ hợp sao, có thể học thuộc lòng rồi sử dụng.

Như mệnh bàn sau, mời các vị xem qua một chút, tâm tính của 2 Đại Hạn sản sinh những loại biến hóa nào?

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Từ cung Mệnh gốc mà xét, Cự Môn hóa Quyền độc tọa cung Ngọ là cách Thạch Trung Ẩn Ngọc tiêu chuẩn, tâm tính cố chấp cần lao, làm người thành thực thiện lương, lấy giúp người làm niềm vui, xử sự tích cực, đây là trời sanh bản tính, hoàn cảnh sinh hoạt ở Đại Hạn thứ nhất (cũng chính là mệnh bàn gốc), tạo ra được đặc tính, cũng có thể nói mỗi người chỉ có một bản tính, có người nói: “3 tuổi định cả đời”, cũng có người nói: “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” có thể thấy lúc này là hoàn cảnh dưỡng thành đặc tính, sẽ theo đương số cả đời, cung mệnh cùng tổ hợp tam phương tứ chính (bao gồm Tứ Hóa năm sinh) là chỉ tiêu vô cùng trọng yếu, đại biểu cho bản chất trời sinh của một người.

Vì mệnh tạo là Âm Nam, cho nên Đại Hạn thứ hai sẽ ở cung Đinh Tị (cunh Huynh Đệ gốc), có Liêm Trinh, Tham Lang hóa Kỵ, Hỏa Tinh, cung đối là Hợi cung có Đà La độc tọa, do tính chất hội chiếu, nên đối với cung Tỵ cũng có ảnh hưởng, cho nên sẽ cấu thành: “Tham Lang hóa Kỵ cùng Đà La (Đà La hóa khí viết Kị) tương hội, đào hoa phiếm thủy”. Tuy là, Tham Lang ở Hợi Tí mới là đào hoa phiếm thủy, nhưng cung Tị đương nhiên cũng chịu ảnh hưởng, hơn nữa Hợi cung còn phi Hóa Kỵ nhập Tị cung, quan hệ của 2 cung này là rất mật thiết, hơn nữa còn có Đà La ở Hợi cung nữa, đương số sẽ có thói quen tham hoa luyến sắc.

Cách cục “Đào hoa phiếm thủy”, do tọa tinh gia hội với các tinh tú thấp kém, có thể giải thích: Đại hạn này sẽ lưu luyến mấy cái chốn ca đài kỹ viện, trầm mê tửu sắc, nhưng nếu hội chiếu các tinh tú cao cấp, thì lại luận là thi tửu phong lưu, khoát ống tay áo dài mà khéo múa, giao tế rộng rãi mà thôi. Do ở trong Đại Hạn gặp phải tổ hợp bất lợi này, qua Đại Hạn liền mất đi lực ảnh hưởng, nguyên nhân do Đại Hạn thứ hai trầm mê tửu sắc, suốt ngày rượu chè, vượt qua Đại Hạn này, mệnh tạo sẽ cải tà quy chánh, chăm chú làm sự nghiệp.

Ở trên đã nói rõ, đều lấy cung Mệnh (cung Mệnh gốc hoặc cung Mệnh của Đại hạn) để mà làm chủ, vậy 11 cung khác dịch chuyển theo vòng hạn lệch vị trí, liệu có sản sinh biến hóa tương tự hay không?

Đúng như vậy, 11 cung khác cũng sẽ theo vận hạn biến hóa, mà khiến cho tổ hợp tinh tú tọa trong cung Đại Hạn tùy theo nó mà thay đổi, bởi vì tổ hợp sao tọa trong cung Đại Hạn sẽ phản ánh hiện tượng nhân sinh (trong vận đó lên đương số). Ví như, nếu như cung Thiên Di của Đại Hạn có Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Mã, thì sao Thiên Cơ chủ biến động, Thái Âm cũng là động tinh, mà có cái câu rằng: “Thiên Cơ, Thái Âm, lãng tẩu tha hương”. Hơn nữa khi gia hội Thiên Mã, càng làm rõ “Lãng tẩu tha hương” vì vậy Đại Hạn sẽ nhất định li khai cố hương ra bên ngoài phát triển, nếu không đúng vậy thì cũng sẽ phát sinh quan hệ cùng yếu tố “ngoại quốc”. Nếu cách cục tốt sẽ có rất nhiều cơ hội được phái đi nước ngoài tập huấn, hoặc đảm nhiệm chức vụ trong công ty ngoại quốc. Nếu cách cục hơi kém, thì khả năng chỉ vào nam ra bắc đi mưu sinh mà thôi.

Cho nên 12 cung Đại Hạn, có thể từ tổ hợp trạng thái các sao tọa thủ mà suy đoán, nhìn ra một chút hiện tượng đặc thù, lại từ đó kết hợp sử dụng với Tứ Hóa, có thể tăng thêm chính xác trong suy luận.

Các sao tọa thủ trong cung Đại Hạn có mối quan hệ với Tứ Hóa do Thiên Can cung Đại Hạn sinh ra, có thể lấy ví dụ: tổ hợp sao tọa trong cung Đại Hạn thì giống như mảnh đất trồng trọt, còn Tứ Hóa từ Can cung lại giống như các yếu tố không khí, ánh mặt trời, nước tưới,… nếu như đất dưỡng cằn cỗi, thì dù cho ánh nắng tốt, không khí tốt, nước tưới tốt phối hợp vào, cây trồng lớn lên cũng không thể xum xuê được. Chỉ khi đất đai phì nhiêu, kết hợp ánh nắng, không khí, tưới tiêu thỏa đáng, thì nhất định là cây trồng lớn lên được xum xuê.

Rốt cuộc thì tổ hợp sao tọa cung Đại Hạn và Tứ Hóa do Can cung Đại Hạn phải lấy nhân tố nào làm trọng? Kỳ thực cả hai yếu tố cần giao thoa nhau trong ứng dụng. Tứ Hóa thì không thể thiếu ảnh tượng đại diện của các tổ hợp sao, còn hình ảnh đại diện của tổ hợp sao lại phải cần có Tứ Hóa bay đến để thúc giục hiển lộ ra, cho nên lúc ứng dụng không thể cố chấp một hướng. Tứ Hóa nắm giữ mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau của cung phát động và cung chịu ảnh hưởng, đồng thời xuyên suốt kết hợp xâu chuỗi các lực ảnh hưởng trong các giai đoạn khác nhau.

Mà tổ hợp sao đại biểu cho hình ảnh của người hoặc của sự việc hoặc của vật, những hình ảnh này sẽ “Hoạt động” hay không thì cần phải có Tứ Hóa sẽ làm chất xúc tác để thúc đẩy biến hóa, mới có thể khiến hình ảnh thành sự kiện thực sự. Như ở ví dụ trước, người qua Đại Hạn thứ hai có tổ hợp sao “Liêm Trinh, Tham Lang, Hỏa Tinh” hội nhập cách cục của đối cung có “Đà La”, nếu như thiếu yếu tố thúc giục biến hóa và liên kết xâu chuối của Tứ Hóa, liệu có thể sản sinh ra hiện tượng tham hoa luyến tửu hay không? Sẽ không! Nếu thiếu tác dụng của Tứ Hóa, thì đó chỉ là “ẩn tượng” mà thôi, là dù có muốn ở trong lòng, cũng không dám biến thành hiện tượng hành động, cũng không ở trắng trợn đeo đuổi tửu sắc, thế nhưng do có Tứ Hóa thúc giục mà nó sẽ thành “Hình ảnh hiển lộ ra”.

Còn có một loại hiện tượng với “cung Mệnh” có tác dụng phụ tá nữa, đó là hai cung giáp cung Mệnh, nếu như cung Huynh Đệ và Phụ Mẫu có các loại cát tinh Phụ, Bật, Xương, Khúc, Dương , Âm hoặc tam hóa Lộc, Quyền, Khoa tới giáp Mệnh, tức biểu thị cung Mệnh gốc hoặc cung Mệnh của Đại Hạn có trợ giúp, nếu cung Mệnh yếu, cũng có thể được phò tá qua cửa ải, không nên bỏ qua lực lượng “Giáp” cung. Trước kia, vốn chỉ coi trọng hiện tượng của các sao đồng cung, hoặc do ảnh hưởng của cách cục lập nên từ tam phương, mà bỏ quên lực lượng giáp cung. Dựa vào khảo nhiệm của tác giả cùng các huynh đệ đồng môn, lực lượng giáp 2 bên thật không thể bỏ qua, nếu như trái phải lân cung có cát tinh đến kẹp, biểu thị có tác dụng nâng đỡ, nếu như có sát tinh đến kẹp, thì sinh ra ý nghĩa không tốt.

Ví như: Tử Vi tọa Mệnh, lân cung có Kình, Đà, Hỏa, Linh, tứ sát đến chèn ép hai bên, đồng thời Tử Vi thiếu các loại cát tinh Tả - Hữu, Xương – Khúc đến giúp đỡ, thì đáng tiếc là [Quân Vương bị tiểu nhân chèn ép, hậm hực phiền lòng, có chí mà không phát huy được], nếu lại gặp các sát tinh khác đồng cung, thì sẽ thông đồng làm bậy, cấu kết với nhau làm việc xấu.

Vì vậy lúc xem các sao tổ hợp để luận mệnh, cần xem xét các góc độ:
- Tổ hợp tinh tú ở Bản cung.
- Trạng thái tổ hợp tinh tú ở Tam phương.
- Lực lượng ở Lân cung trái phải.

Các ý trên, có thể tham khảo giải thích ở các chương nói về tính chất sao, phần phú văn và phần cách cục..

Khởi nguồn các sao:
Trong Tử Vi Đẩu Số, các sao được dùng rốt cuộc có phải hai mươi tám sao trong thiên văn học cổ đại? Hoặc chỉ là các sao không có thật? Thực sự là đã có rất nhiều giả thuyết, với nghiên cứu của người viết, có thể nhận định các sao đều là hư tinh, trên trời cũng không có các sao tương ứng với chúng, chúng chỉ là một đống dấu hiệu mà thôi, như một đại lượng đại số a,b,c … x,y,z … các đại lượng đó là giống nhau. Nhưng mà nhìn lại a, b, c đó về căn bản ta không biết ý tứ chúng biểu hiện cái? Dùng trong mệnh bàn rất khó để lý giải.

Cổ nhân lền tóm lấy trong cổ tịch, đặt cho những cái tên quen thuộc, để thay thế các ký hiệu, khiến người đọc vừa nhìn đã thấy ngay các đặc tính của nó, mà không cần phải lao tâm suy nghĩ sai đi hàm ý, hoặc liên tưởng móc nối trí nhớ. Ví dụ như: Liêm Trinh (xuất hiện từ Chương 5 sách Hàn Phi Tử), Thất Sát (dựa vào cái bia Thất Sát của Trương Hiến Trung mà thành tên, cũng có một thuyết cho là mượn từ môn Bát Tự học), tất thảy đều đã minh bạch chỉ ra rằng tính chất của các sao đều là hư tinh.

Còn như tại sao lại lấy tên từ 28 tinh tú, mà không phải là các chữ số, phải nói rằng khía cạnh này nên nhất trí với nền Thiên Văn học cổ đại, tin rằng từ thuở sơ khai lập nên các sao trong Tử Vi Đẩu Số, người ta đã sử dụng 28 sao trong Thiên Văn học làm tên gọi; như: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích,… Tuy nhiên, tất cả các tên sao đó đều khó có thể biểu thị ý nghĩa của vận mệnh đời người, thế nên mới có sự cải biên, áp dụng những danh từ cổ văn kinh điển có sức tập trung,làm giầu và sâu sắc hơn hàm nghĩa để thay thế nguyên thể là tên thập nhị bát tú.

Cũng có thể nói, ta có thể dùng Lưu Bị thay cho tên sao Tử Vi, Tôn Quyền thế cho Thiên Phủ, như vậy cũng có thể dễ dàng lĩnh hội được hàm nghĩa, khi họ ở đồng cung thì thế nào, lại khi ở thế đối cung thì có ý nghĩa ra sao, điều đó đúng hay không!? Vì vậy nếu bạn thích thì có thể tùy ý thay đổi tên 28 sao.

Các tiên hiền xưa kia dùng nhân vật trong Phong Thần Bảng, liên tưởng với các sao của Tử Vi Đẩu Số, lý do rằng Phong Thần Bảng là truyện dân gian Trung Quốc được người học rất quen thuộc với các điển tích trong đó, cho nên vừa khi nhìn thấy tên các sao họ liên tưởng ngay đến các nhân vật quen thuộc, đặc tính và ý nghĩa các sao cũng liền hiện ra trước mắt, miễn đi việc phải giải thích lằng nhằng. Ví dụ: vì sao Liêm Trinh Thất Sát hội cung Phu Thê thì vợ chồng nhìn nhau như kẻ thù, chỉ cần xét quan hệ nhân vật trong Phong Thần Bảng liền biết ngay, Thất Sát là đại biểu cho Hoàng Phi Hổ, Liêm Trinh là hóa thân của Phí Trọng, vợ của Hoàng Phi Hổ bị Phí Trọng chỉ cho Trụ Vương thèm, triệu vào yến tiệc, tiệc diễn ra Trụ Vương muốn cưỡng bức nàng, để tránh tủi nhục, vợ Hoàng Phi Hổ đã tự sát, nhảy xuống Trích Tinh lầu mà chết, cho nên Hoàng Phi Hổ hận Phí Trọng. Đọc thuộc và lý giải ân oán tình thù của các nhân vật trong Phong Thần Bảng, người đọc có thể lãnh hội được phần nào ý nghĩa các sao trong Tử Vi Đẩu Số, đây là sáng ý rất kiệt xuất, chúng ta nên kính trọng nỗ lực sáng tạo đó của các bậc tiên hiền. Cho nên, muốn hiểu tính chất các sao và ảnh hưởng tương tác qua lại của các tinh tú, nhất định cần đọc truyện Phong Thần.

Phân tách mối quan hệ vận đồ trên lá số:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Sự hội tụ của các tinh tú đồng cung sẽ sinh ra những hình ảnh nào đối với mệnh vận?

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 5 Members:

#12 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 15:07

CHƯƠNG 11: CÁCH CỤC TINH GIẢI


Cách Cục đại biểu cho hình tượng tổng thể của một người, như cách [Dương Lương Xương Lộc] cũng sẽ không hẳn như sách Đẩu Số Toàn Thư thường nói nhất định sẽ thành bậc [lô truyền đệ nhất danh] (nghĩa là: loa xướng tên đỗ đầu), mà nó nói lên rằng người sở hữu cách cục này có khả năng đọc sách trời cho, phản ứng linh mẫn, đối với sở học có khả năng tiếp thu sắp xếp điều chỉnh một cách mạch lạc, lại có thể kết hợp kiến thức với các ý kiến riêng, tạo thành những kĩ nghệ riêng biệt của bản thân, cho nên cách cục cũng chỉ là một chỉ tiêu tham khảo mà thôi, khi thấy một cách cục hiện ra trong mệnh bàn - nó có thể lý giải cho ta một cách khái quát về tính cách và đặc tính cơ bản của đương số.

Cho nên, trong lúc phân tích mệnh bàn, Cách Cục là một tiêu chí cần tham khảo, đến khi nói về vận trình của Đại Hạn, Lưu Niên, sẽ kết hợp cùng Cách Cục của Mệnh gốc sinh ra những quan hệ không thể chia cắt. Cách Cục của Mệnh gốc có sự gieo tượng Tiên Thiên, cách cục ở Đại Hạn lại có sự xuất hiện tượng điềm tương tự, hai yếu tố này nếu trùng điệp thì tăng cường tác động, sẽ phát sinh sự thay đổi, nếu gặp Lưu Niên có một số điều kiện phù hợp, tất sẽ sinh ra sự kiện tương quan. Vì vậy, Cách Cục của Mệnh gốc là một tiêu chí khảo sát vô cùng quan trọng, đặc thù có thể giải thích tỉ mỉ như sau, coi như sự tham khảo nghiên cứu cho mọi người:

1, Tử Phủ đồng cung cách (Đồ hình 21):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cách này là lúc hai sao Tử Vi và Thiên Phủ cùng tọa mệnh ở cung Dần hoặc Thân. Tử Vi và Thiên Phủ là hai đế tinh của chòm Nam - Bắc đẩu, hai sao đồng cung quá thịnh vượng mà thiếu sự phối hợp các sao phụ tá, có thể suy ra đặc tính của mẫu người này thường có khuynh hướng về cảm giác tinh thần trống rỗng, buồn khổ, cô tịch, thường thiếu thận trọng vì việc nhỏ mà đa cảm, hoặc thường có cảm thán [thủ túc vô trợ, tình phần bạc nhược]. Chỉ có điều, cá tính của người có cách này thường thận trọng đôn hậu, khá bằng lòng với hiện tại đời sống vật chất đầy đủ (nói về việc lấy cái đặc tính của sự bằng lòng với hiện tại làm thỏa mãn), chỉ có tại lĩnh vực tình thân là có chút khiếm khuyết mà thôi.

Thích hợp tham gia: Công tác tài vụ, công tác kĩ thuật, nhân viên trợ tác, các việc đòi hỏi suy nghĩ tinh tế, thấu đáo.
Thích nhất có sự đồng cung với Tả, Phụ, Xương, Khúc, Lộc Tồn thì có năng lực quản lý tiền bạc tốt, làm người ngay thẳng khiêm cung, có thể trở thành phú ông. Nhưng nếu chỉ có Lộc Tồn đồng cung mà không có phụ tá tinh hỗ trợ thì lại là người cô độc, không thể luận là cát. Nếu có Kình, Đà, Linh, Hỏa hợp tấu, thì sẽ bị sát tinh dẫn dắt tới hướng phát triển không lành, vì vậy có: là người gian trá giả nhân giả nghĩa, tính khí nóng nảy, bảo thủ cố chấp.
Nữ mệnh có cát tinh bay đến gia hội, thì có thể được phú quý, vượng phu ích tử, biết đủ nên thường được vui vẻ hạnh phúc.

2. Phủ Tướng triều viên cách (Đồ hình 22):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Trong 12 thế đứng cơ bản của Tử Vi trên lá số, luôn có một cung vị được cách Phủ Tướng triều viên, thí dụ như Tử Vi ở Thìn, Thiên Phủ ở Tí, Thiên Tướng ở Thìn, nến cung Mệnh an ở Thân (khỉ), thì đây là cách Phủ Tướng triều viên. Người có cách cục này có mối quan hệ rất tốt với các trưởng bối, thủ trưởng, sư đoàn trưởng … dễ dàng lấy lòng hoặc có lợi vật chất từ họ, được cổ vũ, trợ giúp, đề bạt hoặc bao che, cứu giúp lúc nguy khốn. Người cách này cũng thường được quý nhân tương trợ, bình yên vượt qua cửa khó, người có cách này cũng có nhiều cơ hội giao thiệp yến tiệc, có thể nói là cách cục đệ nhất về hưởng lộc ăn uống.

Là người có cá tính trong cứng ngoài mềm, tự đặt yêu cầu cao cho bản thân, thường tự lấy mình ra làm thước đo, so sánh với người khác, nên thường phát sinh hiện tượng đắc tội với người đồng cấp, thuộc hạ. Tướng mạo lớn, ngũ quan đậm, đường nét rõ ràng. Bất kể nam hay nữ mệnh, hôn nhân đều phải chú ý, người có cách này thì cung Phu Thê Thất Sát tọa thủ, cho nên hôn duyên hơi trễ, kết hôn sớm dễ sinh ra trắc trở. Nếu gặp cát tinh thì dễ có thành tựu, kị gặp sát tinh, nếu không thì ám chỉ sự nghiệp bị hủy hoại trong chốc lát, cần đặc biệt chú ý.

Cách cục Phủ Tướng triều viên trên mệnh bàn có:
1. Tử vi cư Tí, mệnh ở Tí,
Tử Vi cư Ngọ, mệnh ở Ngọ.
2. Tử Vi cư Sửu, mệnh ở Hợi,
Tử Vi cư Mùi, mệnh ở Tị.
3. Tử Vi cư Dần, mệnh ở Tuất,
Tử Vi cư Thân, mệnh ở Thìn (Như hình 22)
4. Tử Vi cư Mão, mệnh ở Dậu,
Tử Vi cư Dậu, mệnh ở Mão.
5. Tử Vi cư Thìn, mệnh ở Thân,
Tử Vi cư Tuất, mệnh ở Dần.
6. Tử Vi cư Tị, mệnh ở Mùi,
Tử Vi cư Hợi, mệnh ở Sửu.

Trên đây là 12 thế đứng cơ bản của Tử Vi trên lá số tạo ra cách Phủ Tướng triều viên, nếu cát tinh hội tụ thì cát lợi, chính tinh thủ cung mệnh có thể được Tử Phủ triều viên cách, càng làm tăng khả năng hành động quyền lệnh và thuận lợi. Kị sát tinh không thích hợp bay vào, nếu có thì phá cách cục tốt đẹp, hướng sự phát triển về mặt trái, có xu hướng làm điều xằng bậy, bất nghĩa.

3. Tử Phủ triều viên cách (Đồ hình 23):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Đồ hình Tử Phủ triều viên cách có rất nhiều, người mang cách này một đời thường qua lại cùng chính trị gia, quân cảnh, giới doanh nhân có thành tựu, đồng thời được họ trợ giúp mà thành công, là cách cục dựa quyền tựa quý. Nhưng kị hội sát tinh tụ tập thêm, thì sẽ là người bình thường, nhưng vẫn có bản tính thích leo dựa quyền quý, thường là phường nịnh bợ, cáo mượn oai hùm, thế nhưng cũng có thể là cha mẹ hoặc anh em bao che. Nhưng bất kể ngoại nhân hay thân nhân che chở, nếu gặp vận tốt vẫn có thể phát triển, duy chỉ danh tiếng nghèo nàn. Nếu hội cát tinh thì có thể mang lại giầu sang kéo dài, có thanh danh. Cách cục này không hợp nữ mệnh, hôn nhân sẽ chậm trễ.

Sau đây đều là phù hợp với cách ấy:
1, Tử Vi cư Tí, mệnh ở Thân,
Tử Vi cư Ngọ, mệnh ở Dần.
2, Tử Vi cư Thìn, mệnh ở Thân,
Tử Vi cư Tuất, mệnh ở Dần.

Cách thứ nhất khá cát lợi, nam mệnh sự nghiệp thành công, tay nắm quyền kinh tế, nữ mệnh thì có chồng sự nghiệp thành công, vượng phu ích tử, người năm sinh Kỉ, bởi vì có Hóa Lộc, Hóa Quyền hội tại tam phương, cho nên phú quý cát mỹ.

(Chú thích: độc giả chú ý, chỗ này dịch nguyên văn, nhưng với thế đứng của trường hợp này thì tuổi Kỷ sẽ chỉ có Vũ Khúc hóa Lộc mà thôi, không thể hội được Hóa Quyền).

Cách thứ hai đại đa số hôn nhân không cát lợi, có khó khăn trở ngại, bởi vì cung phu thê Thất Sát tọa thủ chủ cô khắc, dù muộn hôn thì sau kết hôn vẫn sẽ có những thành kiến không hợp nhau, giữa vợ chồng lời nói vốn không thể giải thích rõ tình hình, thế nên cần suy nghĩ kĩ trước khi nói, mới có thể nói rõ tiếng lòng, thì sẽ không phiền muộn nữa, làm cho hôn nhân cát lành hơn.

4, Cách cục Minh Châu xuất hải (Đồ hình 24):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Chữ “Minh” là do hai chữ Nhật Nguyệt ghép với nhau mà thành, có thể hiểu Nhật Nguyệt ở vượng địa hợp chiếu thành cách này, như Nguyệt ở Hợi, Nhật ở Mão, Nhật Nguyệt phân chia nhau ở lúc sáng nhất hoặc mới ló dạng ban mai, từ từ đi tới lúc bừng sáng (chỉ Nhật đi từ Mão đến Ngọ), cung mệnh an tại Mùi, được Nhật Nguyệt ở Mão Hợi tam hợp chiếu, biểu thị mệnh tạo là người tâm địa quang minh, ngập tràn bác ái, thú vị rộng rãi, tài học xuất chúng, nếu hội thêm Xương, Khúc thì càng làm tăng khả năng ứng biến tình huống linh hoạt cùng tài năng nghệ thuật nở rộ, dễ dàng thành danh trong xã hội.

Về sự nghiệp thì thích hợp nhất với công tác xã hội, các ngành nghề liên quan đến thiện nguyện, hoặc giảng dậy cũng thể hiện được tài hoa, thương nghiệp cũng có thể nắm giữ chức vụ quyền hành lớn (tuy nhiên không quá thích hợp với sự nghiệp thương nghiệp hóa).

Nữ mệnh nếu không có Xương Khúc cùng kị sát tinh đồng cung hoặc tam hợp thì tiền tài, quan lộc, phu duyên tất thảy đều cát lợi, sau hôn nhân thích hợp làm nội trợ hoặc cũng có thể tự gây dựng sự nghiệp riêng thì khá cát lợi, nếu không ôn hòa thì gia đình dễ phong ba.

Người năm sinh Canh, Đinh thì lại kém may mắn, vì những năm này Hóa Kị tại Sửu xung cung mệnh, ứng với việc dễ chuốc thị phi, lâm sự nên nhẫn nhịn để tránh tai họa, nên tham gia các công tác có tính nghiên cứu, học thuật là tốt nhất.

5. Cách cục Nhật Nguyệt tịnh minh (Đồ hình 25):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Nhật Nguyệt ở nơi miếu vượng, tam phương tứ chính cung Mệnh có Nhật Nguyệt hội chiếu, thì phù hợp cách ấy, ví như mệnh ở Ngọ, Thái Dương ở Dần, Thái Âm ở Tí, tức là thành cách, cách này có đặc tính tương tự Minh Châu xuất hải.

Nếu không có sát tinh hội chiếu, người nắm cách này sẽ lười nhác, nhất là nếu có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc cùng cung thì càng nghiêm trọng, vì vậy nếu thấy sát tinh lại là cát lợi do chúng giúp kích phát í chí hành động, có thể lập nên sự nghiệp bất phàm, sát tinh lại không được nhiều, chỉ một là đủ, nếu quá thừa thãi lại sinh ra bôn ba lao lực, bỏ quên gia đình, tăng thêm tính chất cô khắc.

Việc lựa chọn người nắm cách này để làm những việc phục vụ hoặc nghiệp vụ mang tính chất ngoại giao là tốt nhất, từng thấy có người đảm nhận nhiệm vụ quản lý cho công ti chế tạo thiết bị, một tay lo liệu tất cả đơn đặt hàng từ nước ngoài, đồng thời tạo quan hệ sâu rộng với đối tác ngoại quốc, triển khai các cơ hội hợp tác khác.

Nếu cung mệnh có Kình Dương hoặc Hỏa Tinh, thì thành cách [Mã đầu đới tiễn], nhưng nếu Đà La hoặc Linh Tinh đóng mệnh thì lại không hợp cách này.

6. Nhật chiếu Lôi môn cách (Đồ hình 26)

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cung Mão được gọi là Lôi môn (dùng mệnh bàn phối Bát Quái, cung Mão thuộc quẻ Chấn, là Lôi môn), cho nên nếu cung mệnh nằm ở Mão có sao Thái Dương tọa thủ thì gọi là cách “Nhật chiếu Lôi môn”. Giờ Mão là từ năm đến bẩy giờ sáng, là thời điểm mặt trời mới mọc cho đến lúc bừng sáng, lại cùng Thiên Lương đồng cung, chủ cá tính hào sảng khảng khái, hiền hòa, vui giúp người, thấy việc không tốt mà bất bình, làm người quang minh chính đại, thành thực chính trực, tinh thần trách nhiệm cao, vốn có thể làm lãnh đạo, trong xã hội sẽ trở thành người có danh tiếng cao vọng, nếu gặp sát tinh phá xung phá cũng có thể làm bậc trưởng bối trong tiểu khu. Đây là cách cục rất tốt, người sinh ban ngày là tốt nhất.

Thích hợp tham gia: Sự nghiệp từ thiện công ích, nghề phục vụ, giáo viên, đảm nhiệm nhân viên chính phủ hoặc đại biểu hội đồng nhân dân cũng rất thỏa đáng, có sát tinh xung phá hoặc kị tinh đồng cung thì không thích hợp gây dựng sự nghiệp, mạo hiểm mà lợi nhuận lại không lớn, tất làm nhiều hưởng ít.

Nếu nữ mệnh năm sinh Giáp thì lại là không tốt, duyên bạc với cha, chồng, như gần nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều,… Cách này nữ mệnh cá tính quật cường không câu nệ, phải chú ý không thể quá tùy tiện, để tránh cho người khác có cảm giác mình nói năng quá tùy tiện, sẽ bị hiểu lầm mình là con người bất lương hay khinh bạc, nữ mệnh lấy chồng sẽ là người có tính khí ôn hòa hơn (so với bản thân).

7. Nguyệt Lãng Thiên môn cách (Đồ hình 27):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cung Hợi là Thiên Môn, nếu Thái Âm tọa mệnh ở cung Hợi, là Nguyệt Lãng thiên môn cách. Giờ Hợi là từ chín đến mười một giờ đêm, là lúc trăng sáng nhất, dẫn dụ này đã nói lên đặc tính của người mang cách, nam mệnh tướng mạo nhã nhặn, ví như trăng sáng, gợi cho ta thấy nét ngây thơ hồn nhiên, nữ mệnh cả diện mạo lẫn thân đều thể đẹp đẽ, bất kể nam nữ thì tính cách ôn hòa, không quá khích cực đoan, suy nghĩ thâm sâu, đặc biệt thông minh, thích nghiên cứu học vấn , hành văn tốt đẹp, tâm tư ân cần tỉ mỉ, làm người khiêm cung nhường nhịn từ trong tâm, nhân duyên rất tốt, có thể thành danh vì học thuật. Thích hợp làm học giả, chuyên gia , người nắm cách này nên theo lĩnh vực nghiên cứu, nhất định sẽ có thành tựu bất phàm.

Trọn đời bình ổn, lương thiện tụ tài, đặc biệt có duyên với người khác giới, do đó hôn nhân phải chú ý đến giao tế. Người năm sinh Ất, vì Thái Âm Hóa Kị, có khả năng mắt kém và có mối quan hệ không tốt với mẹ, tuy nhiên không quá ảnh hưởng đến sự phát triển khi trưởng thành.

Cách này tối kị sát tinh, kị tinh xung phá, nhất là Hỏa Linh, tạo thành cách [Thái Âm dữ Hỏa Linh đồng cung phản vi thập ác], cá tính khá mạnh mà tự tư lợi, mồm miệng ghê gớm, thiếu sự rộng lượng trong đối nhân xử thế, nhân sinh nhiều trắc trở, dễ bị thất bại hoặc cô độc, nên tu nhân dưỡng tính, để tránh lúc lão niên cô đơn.

8. Cự Cơ đồng lâm cách (đồ hình 28):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cự Môn, Thiên Cơ hai sao này chỉ đồng cung tại Mão, Dậu. Ở cung Mão tốt hơn so với Dậu, (vì cung Mão thuộc Mộc cùng ngũ hành Thiên Cơ tương đồng, Dậu thuộc Kim lại khắc Cơ thuộc Mộc). Con người cách này có đặc thù là giàu lòng nghiên cứu, phàm là đã nghi vấn thì muốn chính mình trải nghiệm thì mới tin tưởng, khẩu tài tốt, cá tính hơi cố chấp, thích hợp công tác đòi hỏi trí tuệ cao, có đặc thù nghệ thuật, niên thiếu khổ cực vất vả, trung niên hưng thịnh, là người dựng nghiệp từ hai bàn tay trắng, hoàn toàn dựa vào chính mình nỗ lực, lương thiện xuất mưu, tài vận tốt nhưng không tụ, trong cuộc đời lên xuống cũng nhiều, chuốc nhiều thị phi tranh chấp.

Nữ mệnh thì không thích hợp, nhất là sinh các năm có Hóa Kị đồng cung, hôn nhân rất vất vả, thân thể không tốt, thường xuyên sinh bệnh, nếu không thì tiền tài lại kém. Thích hợp: công tác cố vấn, ngoại giao, các công việc liên quan đến văn hóa. Nếu sát tinh đồng cung thì có tiền cũng không có danh. Người năm sinh Kỉ, Tân, Quý thì tốt nhất, tài quan song mĩ, năm sinh Đinh Mậu thì thành bại đa đoan, bất ổn định.

9. Cơ Nguyệt Đồng Lương cách (đồ hình 29):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Lá số phù hợp với cách này có rất nhiều, phàm 4 cung Mệnh, Tài, Quan, Di, có các sao Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương đều là phù hợp cách ấy. Đặc thù của cách này chính là người có đầu óc sáng tạo cùng năng lực xử sự khá ưu tú, hành sự có trước sau, suy nghĩ khá thấu đáo, thích hợp nhất là làm quan lại viên chức, không thích hợp nắm quyền hoặc nhân viên quản lý, biết theo phò tá người có thực lực lớn, hỗ trợ bọn họ xây dựng sự nghiệp, bất kể là quân sự, chính trị, kinh doanh đều là trợ thủ đắc lực của cấp trên.

Hiện tại các quan chức cao cấp hoặc tướng sĩ không cầm quyền ngoài mặt trận, rất nhiều người có cách cục này, thành tựu rất cao. Không thể dùng những chức tiểu lại nhỏ nhoi để mà đoán, quản lý một nước ở thời kỳ thái bình thịnh trị chính là cần những nhân tài có cách cục này. Mà sau thời gian mở mang bờ cõi hay đoạt chính quyền thì những nhân tài này nên dùng làm nhân tố quản lý, làm phụ tá cho công tác phân tích hoạch định, như quan hệ của Khương Tử Nha và Chu Võ Vương trước đây.

Cách này hội Tả Hữu, Khúc Xương thì làm văn thanh hiển, làm võ trung lương, nhưng nếu Cơ Âm đồng cung Dần Thân thì làm người tráo trở dễ dàng, để đạt được mục đích không từ thủ đoạn, là mệnh cách bôn ba đất khách, xuất ngoại để phát đạt, nữ mệnh bất lợi tình cảm, nhiều khúc chiết, thậm chí có thể vì danh lợi mà xảy ra tình thế hiến thân, cần phải chú ý.

Nếu hội sát tinh, lang thang đất khách quê người không thành tựu, nếu ngộ cát tinh, chủ phú quý, áo gấm vinh quy.

Người nắm cách này không thích hợp sáng lập sự nghiệp, năng lực sáng tạo tuy mạnh, nhưng năng lực hành động lại yếu. Nếu làm nghề phục vụ thì tốt, vì nghề này có rất nhiều thứ cần phải có sáng kiến trong công việc, ngoài ra các loại khởi nghiệp khác đều không tốt, nếu có thì cũng như việc đầu cơ chớp nhoáng, không thể kéo dài.

10. Thạch trung ẩn ngọc cách (Đồ hình 30):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Phàm Cự Môn tọa Mệnh ở Tí, Ngọ, là cách Thạch trung ẩn ngọc, ý nghĩa như danh xưng, ngọc quý ở trong đá thô nhất định cần trải qua gọt đẽo mới bộc lộ được hào quang. Câu dẫn đó nói lên người thuộc cách này có lý tưởng cao xa, kiến giải tiên tiến, mà người thường khó có thể tiếp thu được, sau này phải trải qua một phen nỗ lực phấn đấu, mới có thể chứng minh suy nghĩ của họ là chính xác, cho nên thiếu niên vất vả cực nhọc, đến sau khi trung niên mới có thể phát triển.

Thích nhất là thấy Lộc, Quyền, Khoa gia hội, danh tiếng vang xa, thích hợp các công tác: thương mại quốc tế, đại lý, nghiệp vụ, văn hóa, giáo dục… Hội sát, kị tinh cùng cung thì phần nhiều thị phi cửa miệng, Hỏa tinh đồng cung, tam hợp có sát tinh tụ họp, thì cẩn thận tai nạn nước sôi lửa bỏng.

Cung Huynh Đệ, Nô Bộc của người năm sinh Đinh, tam hợp hội Hỏa Tinh, dễ bị trộm cướp, cung điền lại không lành, thì chú ý hỏa hoạn.

Người có cách này năm sinh Tân, Quý là tốt nhất, người năm sinh Đinh Cự Môn Hóa Kị, thường do ngôn từ giao tiếp không hợp lý đắc tội người ta mà không biết, nên chú ý khẩu tài hoặc khẩu đức, nhưng nếu tam phương có cát tinh hội chiếu, thì cũng có thể có thành tựu.

11. Nhật lệ trung thiên cách (đồ hình 31):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thái Dương thủ mệnh ở Ngọ, mà tại Ngọ Nhật tỏa sáng rực rỡ nhất, vạn vật bên ngoài được hưởng nhiệt năng, làm người cá tính hào sảng, hiền hòa phóng khoáng, làm việc tốc chiến tốc thắng; thích trợ giúp người, không tính toán; bắt tay làm việc lớn, không so đo ân oán nhỏ; giao du rộng rãi, có năng lực lãnh đạo, cho nên cuối cùng cuộc đời tài vận, sự nghiệp đều tốt. Cá tính tuy mạnh mẽ, nhưng chọn thiện cố chấp, hội cát tinh thích hợp làm thương mại quốc tế, mở xưởng, chính trị, văn hóa sự nghiệp, phục vụ các loại, là mệnh cách phi thường ưu tú.

Người năm sinh Tân, Quý, Canh là tốt nhất, người năm sinh Giáp thì cố chấp, không hợp quần chúng, tự cao tự đại, dễ bị xa lánh, trong cuộc đời trợ lực thiếu, là mệnh cách độc lập tự chủ. Nữ mệnh bất lợi hôn nhân, nếu có thể dùng thái độ ôn nhu để làm hài hòa cuộc hôn nhân, thì có thể giảm thiểu trắc trở, bằng không, vợ đoạt quyền chồng, khó tránh khỏi hôn nhân phong ba vì cá tính xung đột.

Người sinh vào ban ngày buổi trưa là tốt nhất, do hoàn cảnh mang đến, dễ trước chuyên cần sau lười biếng, người sinh ban đêm, vì Thái Dương đã lặn về tây, không còn ánh hào quang, cát lực thất thoát, thích hợp sớm li hương phấn đấu làm việc. Người năm sinh Nhâm, có thể làm thương nhân buôn bán có thành tựu, hoặc người “Thầy” trứ danh, như luật sư, kế toán sư, kĩ sư, lão sư …

12. Cự Nhật đồng cung cách (đồ hình 32):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cự Môn, Thái Dương đồng cung thủ mệnh tại Dần, Thân là cách này; giờ Thân, mặt trời đã nhanh xuống núi, ánh sáng yếu dần, không đủ để rọi sáng Cự Môn đồng cung, thế nên tọa tại cung Dần thì may mắn hơn.

Đặc thù cách này: Cá tính mạnh, khẩu tài tốt, chịu thương chịu khó, vì ”Cự Nhật đồng cung, đa cạnh tranh’’ cho nên sự nghiệp càng cao càng nhiều đối thủ, nghề nghiệp cũng nhiệt tình, khó tránh khỏi cạnh tranh kịch liệt, bất quá có thể kiên trì bền bỉ, mà thu hoạch thành công.

Nhiệt tâm công ích, thích tham gia từ thiện hoặc làm việc nghĩa, hôm qua làm đối thủ cạnh tranh, hôm nay có thể thành bạn hợp tác, trong cuộc đời dễ chịu tiểu nhân hãm hại, nhưng nếu không bị thương tổn thì sự nghiệp lại không có lực phát triển.

Thích hợp: luật sư, mậu dịch quốc tế, du lịch, y sư, giáo sư, công tác ngoại vụ; còn công việc mang tính thông lệ, hành chính thì không thích hợp.

Người mệnh này cùng yếu tố hải ngoại có duyên, nên sớm học tập ngoại ngữ, để dùng về sau. Đến thời trung niên nếu biết đi vào cửa ngõ chính trị, làm người phát ngôn của nhân dân, đương nhiên mệnh cục phải có cát hóa tinh phụ tá thì mới có lợi.

Người năm sinh Tân, Quý, Canh, ban ngày là hợp cách, nếu có sát tinh xung phá thì không lành, í chỉ nhiều tiểu nhân gieo hại.

Mệnh tại cung Thân (khỉ) thì cát lực không rõ, làm việc không đầu không đuôi, trước chăm chỉ sau lười biếng, giỏi nói khoác, kết cục không tốt, nên sửa đổi cá tính, tích cực hơn.

Nếu mệnh cư Thân mà Cự Nhật lại ở cung Dần chiếu, so với mệnh Cự Nhật ở cung Dần thì lại càng cát lợi hơn, tính phát triển càng mạnh, làm người càng có khả năng, thành danh được lợi, nữ mệnh vượng phu ích tử, là mệnh cách quý phu nhân.

Nếu mệnh cư Dần mà Cự Nhật lại ở Thân chiếu về, thì cát lực không hiện, vì mặt trời chiều tà vô lực.

13. Nguyệt sinh thương hải cách (Đồ hình 33):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thiên Đồng, Thái Âm thủ mệnh cư Tí, được gọi là Nguyệt sinh thương hải cách, cũng là [thủy quế trừng ngạc, đắc thanh yếu chi chức] (nghĩa là: cành quế soi bóng nước trong, được chức vị quan trọng), người mang cách này quang minh lỗi lạc, cởi mở, công chính thẳng thắn, không tỏ ra tính toán nhưng lại có thể dự đoán trước nguy cơ mà tránh nạn, thích hợp các loại chức vụ sự nghiệp thanh cao như nhiệm vụ giám sát, phê bình.

Người cách này: tướng mạo thanh tú, thông minh phản ứng tốt, khiến người khác cảm thấy hài hước, nhân duyên tốt, xã giao chén tạc chén thù. Trong các công việc xã giao, giải trí, du lịch, đều có thể nổi danh. Người năm sinh Bính, Đinh, giữa mùa thu là tốt nhất, hoặc người sinh vào đêm trăng rằm mỗi tháng là hợp cách, người sinh vào thời gian khác mà thích hợp cách này, thì cát lực giảm đi.

Người năm sinh Đinh, Mậu, Kỉ, Tân, Quý thì tài quan song mĩ, cùng Kình Dương đồng cung, thân thể bị tổn thương, nữ mệnh bất lợi trong đời sống vợ chồng, có khuynh hướng đồng tính luyến ái hoặc bài xích ân ái, tính huống đó không phải là ít.

14. Nhật Nguyệt chiếu bích cách (Đồ hình 34):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thái Dương, Thái Âm hai sao đồng cung ở Sửu Mùi, lại đúng lúc ở đó là cung Điền Trạch, gọi là cách Nhật Nguyệt chiếu bích, nắm cách cục này thì một đời tập trung nhiều bất động sản, bao gồm cả thừa kế, tự mua, được tặng, …., cũng vì sở hữu nhiều nhà đất nên trở thành cách cục của phú ông, đại địa chủ.

Người năm sinh Canh, Tân, Đinh, Mậu là hợp cách; những người năm sinh khác thì xếp sau. Cung Sửu trội hơn cung Mùi, bởi vì Nguyệt làm chủ cung điền trạch, ở cung Sửu vẫn là buổi tối, ánh trăng vẫn tỏa ra ánh sáng, so với cung Mùi thì sáng hơn, mà Thái Dương lại không chủ về điền sản.

Do cung Mệnh tọa Phá Quân, ở Thìn Tuất thì Phá Quân có í nghĩa biến động, cái biến động đó có rất nhiều í tứ, như: Ly hương lập gia ở nơi đất khách quê người, sự nghiệp hay thay đổi hoặc nhà cửa hay di chuyển, do vậy có điền sản lại không phải do mình canh tác, phần lớn đều giao cho người khác quản lí, cho nên phải thận trọng trong việc chọn người ủy thác, để tránh khỏi bị xâm chiếm.

Bởi vì bất động sản không dễ mà bán thành tiền mặt, giả như vào vận hạn không lành, tiền tài đều đầu tư vào điền sản, nếu như sự nghiệp lại gặp khó khăn cần vốn xoay vòng, rất dễ dàng thất bại thảm hại, việc này với cung mệnh do Phá Quân tọa có quan hệ rất lớn.

15. Tham Vũ đồng hành cách (Đồ hình 35):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung Sửu Mùi thủ Mệnh, gọi là Tham Vũ đồng hành cách, nếu là người hợp cách: cá tính kiên nghị, không sợ vất vả mệt nhọc, tinh thần thịnh vượng, khó có thể kế thừa tổ nghiệp, là mệnh cách thành công ở nơi đất khách. Vũ Khúc, Tham Lang cũng là tài tinh, nhưng nếu đồng cung thì lại có thuyết ”Tham Vũ đồng cung bất phát thiếu niên nhân”, tức là trước ba mươi tuổi thì tiền đến liền đi, vất vả cực nhọc bôn ba, tuy có tổ nghiệp cũng khó bảo toàn, nhưng sau ba mươi tuổi lại dần dần bộc lộ tài năng, trở thành doanh nhân thành đạt, nếu có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung, tạo thành [Tham Hỏa cách] hoặc [Tham Linh cách], sẽ mang tính đầu cơ mạnh, thường thường từ thị trường cổ phiếu và hàng hóa phát sinh thu lợi, nhưng nếu vận trình không cát, sẽ bị thất bại sạch sẽ, người mang cách này cần lưu ý.

Nếu Tham Vũ mà lại xuất hiện Hỏa Tinh hoặc kiềm tinh (Ấn tinh) đồng cung, thì thích hợp quân lữ, nhất định có thể mạo hiểm mà lập công nơi biên thùy, trở thành rường cột của quốc gia - nắm quyền lớn, nếu không hội Hỏa Linh thì thiếu sát khí, khó có trở thành đại tướng uy chấn biên cương. Nhược mà gặp kị sát tinh, thì phú quý không bền thân thể tổn thương, giảm thọ.

Nữ mệnh Vũ Tham, thần kinh chất, keo kiệt, phóng khoáng có mục đích, dễ mang tiếng tính toán chi li, yêu thích tự do, cầu tiến, không cúi đầu trước người khác, nhất định phải thành công cho thiên hạ xem, nữ mệnh thương yêu chồng nhưng muộn hôn.

Kiêng kị nhất là có Kình Đà bay tới, cảm tình nhất định không thuận lợi, làm nhân viên kĩ thuật bình thường hay công ti nhỏ, tiểu thương, thành tựu khá thấp.

Có Long Trì, Thiên Diêu đồng cung, thì nặng tính đào hoa, dễ có sóng gió tình cảm.

16. Nhật Nguyệt giáp mệnh cách (cùng đồ hình 35):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thái Dương làm chủ cung Quan Lộc, Thái Âm làm chủ cung Tài Bạch, nếu hai sao miếu vượng mà bay tới kẹp mệnh, chủ phú quý song hành, dễ được quan trên đề bạt mà thành công, tài quan song mĩ, như đồ hình thứ 35 là một ví dụ, nếu người lập mệnh ở cung Sửu, Vũ Tham đồng cung, Nhật ở Dần, Nguyệt ở Tí, hai sao đều vượng mà kẹp mệnh, cũng là Nhật Nguyệt giáp mệnh cách, chủ một đời tài vận sung túc, trở thành một công lớn hùng cứ một phương. (cùng Vũ Tham đồng hành cách mà luận)

Thiên Phủ tọa mệnh vốn đã có ý giầu có, loại giầu này vốn thường là do kế thừa mà có, một số ít do chính mình hậu thiên nỗ lực có được, vì Thiên Phủ chủ bảo thủ, thiếu lực khai sáng, thành ra hậu thiên vì nỗ lực mà có được tài phú, phần lớn là tiết kiệm rồi lại tiết kiệm nữa, mà không phải do đầu tư làm sự nghiệp kiếm được, cộng thêm đặc tính tự cao tự đại của Phủ, thật sự không thích hợp với việc tính toán chi li của thương trường, nếu tự doanh cũng phải làm nghề thanh cao hoặc người đặc biệt trong thương trường để người khác cầu cạnh, tỉ như luật sư, cố vấn kinh tế hoặc kế toán cao cấp chẳng hạn.

17. Anh tinh nhập miếu cách (đồ hình 36):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cung mệnh có Phá Quân cư Tý, Ngọ nhập miếu vượng, lại không có sát tinh xung phá; người mang mệnh cách này: thích sáng tạo, thích với sự vật mới mẻ, với bất cứ sự tình gì đều ôm thái độ hoài nghi, lấy mọi việc mắt thấy tai nghe làm thực tế, chú trọng sự việc hữu hình, gan lớn, thích đầu tư mạo hiểm, thường xuyên biến hóa cải biên, có thể làm nhà cải cách, thành công cùng thất bại diễn ra trong nháy mắt; cho nên với người mang cách cục này thì ”Biến động” là từ để miêu tả chính xác nhất.

Người nắm cách này xuất ngoại phát triển, cùng yếu tố hải ngoại rất có quan hệ, như phát sinh quan hệ thương nghiệp với nước ngoài hoặc thường xuyên xuất ngoại, cho nên yếu tố ngoại ngữ là quan trọng nhất cần sớm học tốt.

Nếu thêm sát tinh, làm người trọng cơ mưu, âm hiểm, thích đánh bạc, ích kỷ trọng lợi, đời làm nhiều việc trái pháp luật, bôn ba lao lực.

Người năm sinh Giáp, Đinh, Kỉ, Quý thì phúc dày, năm sinh Bính Mậu thì không cát. Người mang mệnh cách này thì khá linh hoạt, văn võ đều thích hợp.

18. Thất Sát triều đẩu cách (đồ hình 37):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Mệnh tọa Thất Sát ở Tí, Ngọ, Dần, Thân , lại hội cát tinh, tất không phải kẻ đầu đường xó chợ, khi thì kiệm lời, lúc lại thao thao bất tuyệt, thường có cảm giác cô độc, trọng lý trí vật chất coi thường tinh thần hư ảo, thiếu niên gặp nhiều gian truân, trong đời hoàn cảnh làm việc gặp nhiều biến hóa lớn, vốn có lòng kiên cường nghị lực hơn người, không sợ vất vả cực nhọc, thường qua thất bại trùng điệp mà thành công lập nghiệp, sự nghiệp thường tự sáng lập cơ nghiệp, vất vả cực nhọc sáng tạo độc đáo, thành tựu huy hoàng.

Người có Xương Khúc gia hội, bất kể làm chính trị, theo quân sự, hoặc nhậm chức đều là chủ quản, theo buôn bán cũng làm chủ, danh tiếng tốt, làm người ngay thẳng, đối nhân xử thế có nguyên tắc, niềm tin làm việc là ”Thuyền đáo kiều đầu tự nhiên trực” (thuyền tới đầu cầu tự nhiên thẳng) mà không quen làm theo kế hoạch, thích hợp tham gia việc kĩ thuật hoặc trọng tân tổ hợp công tác.

Tả Hữu, Xương Khúc hội hợp thì quyền danh đều tốt.

Tối kị cùng đồng cung với 2 sao Kình Dương và Linh Tinh, trong một đời thời có những việc quan tụng, vận trình thăng trầm biến hóa lớn, nếu như hành vận không tốt, càng có thể phát sinh những thương tật ở trên thân thể.

Người có nhiều sát tinh gia hội, không thích hợp sáng lập cơ nghiệp, nên ở công ti lớn nhậm chức thì hợp hơn, cũng nên cẩn thận tai họa, nếu người hội Xương – Khúc – Khôi cùng sát tinh thì chỉ nên làm công chức.

Cách này không hợp với nữ mệnh, chủ hôn nhân muộn hoặc cô độc, dũng mãnh, lúc sinh đẻ không thuận lợi, nếu làm nghề phụ nữ có thể một mình đảm đương một phương diện, nhưng tình cảm sinh hoạt thường bất lợi, thiếu cá tính ôn hòa cùng í nguyện hòa điệu, phải tự mình cảnh giác mà cải tiến bản thân.

19. Mã đầu đới tiễn cách (Đồ hình 38):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Phàm người có Thất Sát, Tham Lang, Phá Quân, hoặc Đồng Âm tọa mệnh tại Ngọ, lại ngộ Kình Đà, Linh Hỏa là thành cách, trọn đời nhiều công tác ở bên ngoài hoặc sáng lập sự nghiệp, thường xuyên có cơ hội xuất ngoại, khi tuổi nhỏ nhiều chuyện hung hiểm, khi lớn thường gặp thương tật trên thân thể, công việc trải qua khó khăn lúc khởi đầu, chỉ có điều cuối cùng cũng có thể áo gấm vinh quy.

Người có cách này, bạn bè nhiều, hay đi ra ngoài, nhưng lại lơ là gia đình, ở phương diện tình cảm này có khuyết điểm, gây nên sự kháng nghị của vợ, nhưng bản thân cũng không thèm để ý. Có niềm đam mê với máy móc thiết bị, hơn nữa lại có khả năng cải tổ cách tân đến nơi đến chốn, cho nên cũng thích hợp tham gia công tác kĩ thuật. Vài việc khác như: ngoại vụ, thúc đẩy mua bán cũng rất tốt.

Nữ mệnh thì không lành, cảm tình dễ chịu nhiều đả kích, cuộc sống vợ chồng có khuyết điểm, dễ cô độc, nhưng nếu bản thân có sự nghiệp thì lại tốt. Cách này người năm sinh Bính là tốt nhất, người năm sinh Đinh thì nhiều thị phi, tiền tài không thuận.

Cách này là người có năng lực khai sáng, không thích hợp đảm nhiệm gìn giữ cái đã có, như công việc quản lý nội bộ chẳng hạn.

20. Tam Kì gia hội cách (đồ hình 39):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Tam Kì là: Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Quyền do can năm sinh tạo ra nằm ở bốn cung Mệnh, Tài, Quan, Di thì hợp cách. Nếu như chỉ có hai Hóa thì bớt cát lực, giả sử Mệnh có một sao hóa cát tinh, một sao hóa khác gia hội (vẫn đang xét trường hợp 2 Hóa hội mệnh), thì lại tốt. Ở tọa cung không có hóa cát tinh, đại hạn không có sự phối hợp, cũng là nghèo túng sống qua ngày; Hóa Lộc chủ tiền, Hóa Quyền chủ quyền, Hóa Khoa chủ thanh danh, nên là tọa Hóa Lộc mà Hóa Quyền hội chiếu thì tốt, có lộc thực sự, còn những trường hợp khác thì chỉ danh tiếng mà thôi.

Người cách này cho dù cung mệnh không lành, cũng có năng lực gặp dữ hóa lành, rất dễ trở thành người được cả danh lẫn lợi.

Cách này đẹp nhất là mệnh tọa Hóa Khoa, quan lộc Hóa Quyền, tài bạch Hóa Lộc, bởi vì các cát hóa rơi vào đúng cung vị.
Giả sử mệnh đóng ở Tí can cung là Bính, có Liêm Trinh tự Hóa Kị, nhưng thiên can năm sinh lại khiến Liêm Trinh Hóa Lộc, chúng lại tác dụng lẫn nhau, khiến cho mệnh tạo đi qua hành vận bất lợi.

21. Hùng tú triều viên cách (đồ hình 40):

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Liêm Trinh tọa mệnh ở cung Thân là hợp cách này, làm người cá tính mạnh mẽ, tính khí lớn, thông minh lanh lợi, tự bản thân đặt ra yêu cầu cao, thường tự lấy tiêu chuẩn bản thân mà đánh giá người khác, không ngại ngần chỉ ra chỗ sai hoặc trách mắng bất kể đối phương là cha mẹ hay bậc trưởng bối, thẳng tính không để ý hậu quả (khẩu ác tâm thiện), hội Văn Xương thì giỏi lễ nhạc, hội Lộc Tồn thì có phú quý; không hội kị sát tinh, là người phú quý tích thiện; người năm sinh Giáp, Mậu, Canh tốt nhất, năm sinh Đinh, Kỷ tốt thứ hai.

Người mang cách này đều lấy yêu ghét của bản thân làm tiêu chuẩn hành sự, cho dù phạm pháp cũng không hối tiếc, nên nếu Liêm Trinh Hóa Kị thì dễ bị pháp luật hỏi thăm, không thể không đề phòng, nếu còn nhỏ thì nên hướng cho theo học các ngành liên quan đến pháp luật, hoặc làm việc liên quan đến luật pháp, thì sau này sự nghiệp có trợ giúp rất lớn làm phát huy sở trường.

Nữ mệnh năm sinh Giáp, Ất, Canh, Quý thì thanh bạch, vượng phu ích tử, hội cát tinh thì cảm tình bình ổn, hội Hóa Kị thì có thị phi cãi cọ; khi Liêm Trinh Hóa Kị thì cần phải chú ý việc quan tụng.

Hội Đà La, Hỏa Tinh thì dễ bị tai nạn máu mủ, khó khám không ra bệnh; suy nghĩ tầm nhìn thiển cận, nhưng có thể đột phá mấu chốt tâm lí, lại rất có hi vọng.

22. Lộc hợp uyên ương cách
Lộc Tồn và Hóa Lộc cùng hội ở cung Mệnh hoặc Tài bạch là hợp cách, Lộc Tồn là minh lộc, Hóa Lộc là ám lộc, minh lộc ám lộc chỉ ra tài lộc thu vào, có ý tứ tài vận thịnh vượng, thích hợp phát triển ở giới thương nhân, có thành tựu, tài phú không nhỏ nhưng không quý, nhưng nếu hành vận không lành thì cũng bị tan hoang, không nên ỉ vào tiền tài mà kiêu, thích hợp tham gia công tác xã hội.

23. Song lộc triều viên cách
Lộc Tồn và Hóa Lộc, một thủ Mệnh, một thủ Tài là cách này, tiền tài sung túc tiến vào, đại phú là không thể ngờ, nếu hai sao ở tam phương cung mệnh, thì cát lực giảm đi, nhưng cũng là cách cục giàu có, bất quá tuổi trẻ cần tằn tiện để khai sáng sự nghiệp, trung niên mới có thể từng bước trở thành phú ông, nếu xa xỉ chơi bời, dùng tiền để đối nhân xử thế, gặp vận hạn không lành, dễ bị trắng tay, cách này không thích hợp công việc mang tính đầu cơ.

24. Lộc Mã giao trì cách
Lộc Tồn, Hóa Lộc thủ Mệnh hoặc Tài Bạch mà có Thiên Mã ở đối cung chiếu về, là cách này. Biểu thị người này có duyên kì ngộ với mậu dịch quốc tế hoặc xí nghiệp xuyên quốc gia, hơn nữa lại có quý nhân ở ngoại quốc giúp đỡ, nếu Thiên Mã từ tam phương hội vào cũng hợp cách, nhưng lực tác động thì từ cung Thiên Di bay vào là mạnh nhất, không hợp gặp kị sát xung tới, nhất xung tức phá.

25. Tả Hữu đồng cung cách
Tả Phụ Hữu Bật đồng cung thủ cung Thân tại Sửu Mùi là hợp cách này, nếu Phụ Bật tới kẹp mệnh thì cát lực thua xa. Người mang cách này, từ lúc học hành đã có thanh danh, văn tài không tệ, cũng vì vậy mà gặt hái thành công. Là người thông minh, phản ứng linh hoạt, nếu có sát tinh hội chiếu, danh tiếng nhỏ hay to, phải xem tổ hợp sát tinh hội cùng chủ tinh mà luận.

26. Tọa quý hướng quý cách
Thiên Khôi, Thiên Việt là hai quý nhân, một ở Mệnh, một ở Di là hợp cách này, trọn đời được nhiều trưởng bối đề bạt chiếu cố; lúc nguy nan, cũng thường có quý nhân tương trợ; sự nghiệp cũng thường có trợ lực ngoài ý muốn, hoặc được báo trước nguy nạn mà tránh, ví dụ: được người khác tặng cho hoặc ban thưởng chương biểu vinh sủng, vậy từ trung niên về sau liền biến thành người muốn bao che cho người khác.

Nam mệnh tọa Thiên Việt, nữ mệnh tọa Thiên Khôi, phải chú ý tới điều kiện người khác giới trợ giúp, để tránh gia đình bất hòa, chưa kết hôn thì không sao, nếu đối phương đã có gia đình thì nên kiêng kị.

27. Văn quế văn hoa cách
Xương Khúc đồng cung thủ mệnh tại Sửu Mùi, là cách này, hoặc từ tam phương, Thiên Di nhập vào cũng được. Người cách này, thông minh hiếu học, thích tân trang, từ nhỏ đã có thể triển lộ tài hoa, thích hợp văn học, phương diện nghệ thuật phát triển, đem lại danh tiếng, bất quá chưa chắc đã có được học vị cao. Từng thấy ngôi sao ca tử hí kịch Dương Lệ Hoa tiểu thư là cách này.

Nhưng không thể có Kị tinh hội nhập, sợ rằng có văn thư thị phi, cho nên người sinh năm Tân năm Kỷ thì bất lợi, lúc nhỏ có nỗi khổ thất học hoặc con đường học vấn vất vả, lúc trưởng thành thì cần đề phòng những mối bất hòa trong việc ký kết đồng, ngân phiếu, giấy nợ, giấy cho thuê mướn.

28. Mệnh vô chính diệu cách
Cung mệnh không có chính tinh thủ mệnh, muốn xem phải mượn chính tinh ở cung Thiên Di và cung phụ mẫu để luận. Đại đa số là lục thân duyên phận bạc hoặc vô lực tương trợ, hoặc từ nhỏ người khác nuôi lớn, hoặc tuổi nhỏ rời quê hương, khi trưởng thành thì lại không lo ngại, nhất là cung mệnh cùng cung phụ mẫu đều vô chính diệu, thì phi thường linh nghiệm.

Mệnh vô chính diệu không phải là xấu, vì vô chủ nên các sao ở cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Phúc Đức tùy tốt xấu mà ảnh hưởng rất lớn, chỉ là tuổi nhỏ có khá nhiều việc xảy ra mà thôi, khi lớn lên thường có nhiều thành tựu khác thường.

Nhất là người có mệnh ở Thân, đối cung Cự Môn ở Dần, Thái Dương hội chiếu, sát tinh ở Mùi hiệp vào. Cho dù cung Mệnh vô chính diệu cũng không sao, bởi vì Thái Dương chiếu mệnh, rất là may mắn, đời này với yếu tố nước ngoài có duyên, nên sớm học giỏi ngoại ngữ.


Trên đây là các loại cách cục thường gặp, chúng chỉ đại biểu cho một mệnh cách là cao hay thấp mà thôi, cũng không nói lên được rằng tồn tại một loại cách cục tốt số nào đó mà tài quan song mĩ, phải xét theo vận phối hợp mới có thể chỉ ra được, cho nên nhìn mệnh cách tốt, không nên quá đắc í, nếu hành vận không phù trợ thì vẫn không thể phát triển. Nhưng mệnh cách vẫn cho chúng ta một cái nhìn khái quát về đặc tính của mệnh bàn, như vừa nhìn thấy [Mã đầu đới tiễn] biết ngay là cá tính rất mạnh vậy, thích sửa chữa máy móc cơ khí, từ các đặc tính ở bên ngoài, phối hợp với vận thế, ta có thể luận được cát hung cụ thể hơn, bằng không như thuyền nhỏ ra biển lớn, không có manh mối, biết đâu là [định hướng]? Cách cục có thể giúp người xem đại khái định hướng được.

Còn nữa, cần hiểu rằng nam nữ mệnh có sự khác biệt, có một vài cách cục mà nếu nam mệnh thì cát lợi, nhưng với nữ thì lại không tốt, như [quần thần khánh hội] cách chẳng hạn, nếu như nam mệnh sẽ có rất nhiều hảo bằng hữu, thế nhưng bất lợi nữ mệnh, vì rằng nhiều bạn bè, bao gồm cả bạn nam, vì vậy giao du phức tạp, phạm vi lại rộng, hạng người nào cũng có, khiến người ta có cảm giác nữ nhân phong trần, nếu không cẩn thận còn có thể gây thị phi, cho nên cách này với nữ nhân bất lợi. Ngoài ra còn có nhiều mệnh cục khác tình huống tương tự, cốt là để nói nam nữ có sự khác biệt rất lớn.

Còn muốn luận đoán ”Vận”, ta cần khảo sát biến động của Tứ Hóa, đó là then chốt tinh hoa của Đẩu Số, nếu không hiểu cách dùng của Tứ Hóa, thì chỉ có thể là ”Toán mệnh” mà không có khả năng ”Thôi vận”, muốn nắm được động thái biến hóa của vận mạng, không thể coi thường tác dụng của Tứ Hóa.

Thanked by 5 Members:

#13 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 15:25

CHƯƠNG 12: QUAN HỆ GIỮA THIÊN CAN VÀ TỨ HÓA TINH


Mười Thiên Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, trong môn Tử Vi Đẩu Số đại biểu cho mối quan hệ của không gian, ở đây thì cái gọi là Không Gian, mang ý nghĩa:
Không gian sinh tồn
Không gian hoạt động
Phạm vi hoạt động
Hoàn cảnh trong các thời gian khác nhau
Tâm cảnh (cõi lòng)
Tưởng pháp (Lối suy nghĩ)

Nói về con người, trong một thời gian ngắn nào đó, nắm lấy một không gian riêng biệt, tức là, người đang sống thì chiếm giữ một khoảng không gian nhất định; trong khoảng thời gian này, tâm cảnh và lối suy nghĩ sẽ chi phối những hoạt động của người đó, để mà: kết giao hẹn hò, đi kiếm tiền, mua nhà, hôn thú phối ngẫu, dưỡng dục con cái, phụng dưỡng tôn trưởng, tùy thời mà chú ý sức khỏe, bảo dưỡng xe cộ. Những hoạt động này cấu thành một loại không gian khác của sinh hoạt cuộc sống, bởi vị sự tồn tại của những không gian này, hoàn cảnh sinh tồn mới có thể muôn màu muôn vẻ, phong phú đầy ý nghĩa. Mọi người làm việc đều tuân theo cái trình tự mà thi hành:
Suy nghĩ – Thực hiện – Kết quả - Thu liễm (Thu dọn).
Tử Vi Đẩu Số sử dụng sự đối ứng:
Hóa Lộc – Hóa Quyền – Hóa Khoa – Hóa Kị.

Thế nhưng, mọi người trong lúc tham gia một hoạt động nào đó, đều là tuân theo cái thứ tự: Suy nghĩ – Thực hiện – Kết quả - Thu dọn (tương tự lý thuyết quản lý học PDOA), suy nghĩ, đem ý tưởng trở thành hành động, lấy được thành quả, sau cùng là hưởng thụ thành quả. Ví dụ: Việc mua nhà, đầu tiên, sẽ phải nghĩ đến việc mua nhà, các loại yếu tố về bố cục của căn nhà, môi trường xung quanh, giá cả,… đều sẽ ở trong tư tưởng mà cùng được cân nhắc, sau một phen suy nghĩ sâu xa và so sánh các khả năng có thể xảy ra, sẽ đưa ra quyết định mua một căn nhà, đặt cọc, trả tiền, sau đó dọn vào ở, hưởng thụ niềm vui.

Trong Tử Vi Đẩu Số, dùng 4 cái trình tự Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, để mà đại biểu hàm nghĩa như sau:
Hóa Lộc – nguyên nhân, tư tưởng.
Hóa Quyền – hành động, chấp hành, ước thúc, quản chế.
Hóa Khoa – công thành danh toại thu hoạch
Hóa Kị - hưởng thụ, tiềm tàng, thu liễm.

Tất cả quá trình này tựa hồ mỗi một cung nhân sự đều tồn tại, cho nên mỗi một cung đều có Thiên Can để diễn sinh Tứ Hóa, biểu thị thứ tự của quá trình 4 giai đoạn ấy. Tứ hóa có ảnh hưởng xâu chuỗi các cung vị cùng loại mà không cùng khoảng thời gian, và liên kết với các cung vị không cùng loại, biểu thị hệ thống mắt xích Nguyên nhân - Kết quả qua lại một cách chặt chẽ.

Mỗi một hành vi mà cung nhân sự sẽ kéo dài về sau, 1 năm, 2 năm, thậm chí 10 năm, 20 năm,… Thế nhưng, có những tư tưởng lại như phù dung sớm nở tối tàn, căn bản là do chưa biến thành hành động. Do đó Tứ Hóa có tác dụng sự xâu chuỗi các Không gian, giai đoạn khác nhau, nếu như gặp đại hạn dịch chuyển, liền do Can cung của Đại Hạn khác đi mà diễn sinh Tứ Hóa, lấy biểu hiện về mặt tâm tính có sự cải biến. Cái việc diễn sinh Tứ Hóa theo Can cung của Đại Hạn kế tiếp và cái việc diễn sinh Tứ Hóa của Can cung Đại hạn hiện hành, có tính liên tục, biểu thị ra tư tưởng hoặc hành động, sẽ kéo dài. Giả sử nó là không liên tục, đó là dấu hiệu cho rằng, ắt sẽ thấy có sự giữa đường đứt gánh hoặc mất hứng thú.

Ví dụ như mệnh tạo có Can cung Đại Hạn là Ất, thì Tứ Hóa của nó như sau: Thiên Cơ hóa Lộc, Thiên Lương hóa Quyền, Tử Vi hóa Khoa, Thái Âm hóa Kị. Đi sang Đại Hạn tiếp theo có Can là Bính, thì Tứ Hóa như sau: Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, Văn Xương hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Kị. Do đó, nếu là người cách cục [Cơ Nguyệt Đồng Lương], gặp 2 Đại Hạn này, Hóa Lộc, Hóa Quyền ở tam phương của Mệnh gốc hoặc chiếu tam phương, cho nên nếu thi thố công danh, mưu chức gây dựng sự nghiệp, đều có thể trôi chảy như ý.

Mọi người có thể quan sát từ 10 Thiên Can Tứ Hóa trong ngoài xuất ra, tổ hợp cách cục của các sao ở tam phương tứ chính với thập can Tứ Hóa có quan hệ rất lớn. Vì sao lại nói cái người [Cơ Nguyệt Đồng Lương cách] làm việc có kế hoạch, có trình tự, hơn nữa còn là cách cục từng bước từng bước hướng tới thành công? Bởi vì 3 Thiên can liên tục là Ất, Bính, Đinh diễn sinh Tứ Hóa đều nếu không phải là ở tam phương của cách Cơ Nguyệt Đồng Lương thì cũng là tới chiếu vào tam phương.

Từ chỗ Tứ Hóa của Can cung Đại hạn gốc phi Hóa phát động Tứ Hóa của Đại hạn ngay trước đó mà có hay không tính liên tục? Có thể dùng để xem xét mệnh tạo thuộc loại mệnh cách bạo phát bạo tàn hay từ từ mà tiến dần đến thành công.

Người mang cách Vũ Tham thì thường giầu có sau một đêm, số phận bạo phát bạo tàn, bởi vì can Kỉ khiến cho Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền cùng đóng ở Mệnh – Quan hoặc hội hợp trục Mệnh – Di, cho nên sẽ phát đạt nhanh, nhưng qua Đại Hạn tiếp theo, thì sự tình sẽ là:
Can Mậu – Tham Lang Hóa Lộc.
Can Canh – Vũ Khúc Hóa Quyền.
Lúc này chỉ có Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền nhập mà thôi, biểu thị không có lý tưởng, không có cách thay đổi hành động; hoặc chẳng màng thế sự, làm càn một phen, không có kế hoạch: Tuy rằng đối với Vũ Khúc Tham Lang, cũng có ảnh hưởng, nhưng không có Hóa Khoa nhập tam phương của cách Vũ Tham cho nên đây là hiện tượng bạo phát bạo tàn.

Từ hình thái tổ hợp các sao mà hóa thành Tứ Hóa theo Can cung, kết hợp với cách cục của Mệnh cách, chúng ta cũng có thể thấy được chủ nhân mệnh bàn là mẫu người thuộc dạng bạo phát bạo tàn hay từ từ tiến tới thành công.

Về phần dựa vào đâu để phát đạt? hoặc vì cái gì mà thất bại, thì cần xem xét [Hóa tinh] là cái sao nào đã hóa? Mỗi một sao, đại biểu cho một loại ý tượng (hình ảnh), mà nó nằm ở các cung nhân sự khác nhau cũng có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ: Liêm Trinh hóa Lộc mà độc tọa tại cung Quan Lộc, bởi vì Liêm Trinh thuộc Đinh hỏa, là điện năng, về vật phẩm mà nói là đồ dùng điện khí, như ti vi, máy giặt, nồi cơm điện, các loại máy móc, cho nên thích hợp làm các công việc liên quan đến ngành điện, bên cạnh đó tham khảo các phụ tinh đồng cung, sẽ có thể đưa ra kết luận tinh tế về hạng mục nghề nghiệp.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Cho nên, thập can tứ hóa nhất định phải tùy thuộc vào cung nhân sự khác nhau để mà thay đổi sự giải thích, sau đó lại phải xem xét cả Chính tinh đồng cung, các trạng thái tổ hợp của trợ tinh, sát tinh, chú ý từng chi tiết mà giải thích tỉ mỉ chính xác. Bởi vậy, việc tham khảo ý tượng (hình ảnh) mà các tinh tú đại biểu của thập can Tứ Hóa thì cần phải hiểu rõ trong lòng, mới có thể ứng dụng linh hoạt. (về ý nghĩa của thập thiên can hóa diệu mời tham khảo chương 25: Giải thích sự vận dụng linh hoạt Tứ Hóa phi tinh).

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Kết cấu suy luận của Tử Vi Đẩu Số

Thanked by 4 Members:

#14 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 17/03/2019 - 15:37

CHƯƠNG 13: TỨ HÓA NHẬP MÔN


Cái gọi là Tứ Hóa tinh tức là chỉ 4 ngôi Hóa tinh gồm Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Kỵ. Thời xưa lấy nông nghiệp dựng nước, nông nghiệp là cái gốc của quốc gia mà nếu không thuận theo bốn mùa để làm thì sẽ khiến cho cây nông nghiệp bị thu hoạch kém. Ít thì trong gia đình bị đói kém, cuộc sống phát sinh vấn đề, lan rộng ra thì dân chúng lầm than, dân đói bỏ xứ chạy trốn, khắp nơi hỗn loạn, vì vậy mà quốc gia rối loạn bất an, thậm chí dẫn tới diệt vong. Bởi vậy, quá trình mệnh vận của con người, không nghe theo sự biến đổi của đời sống bốn mùa, chờ cơ hội mà làm, nỗ lực canh tác, cũng sẽ như tương tự như sự sinh trưởng của cây nông nghiệp. Khi học mà không thực hành, khi phấn đấu mà không thực hiện, chỉ muốn an nhàn qua ngày, cho đến già chẳng làm nên tích sự gì, tất nhiên thành kẻ đầu đường xó chợ, mỗi ngày vì ba bữa ăn mà ủ mưu, sao có thể nuôi dưỡng tuổi đời!?

Thánh nhân quan sát đời sống cùng thời vụ canh tác bốn mùa, cảm nhận được nhân sinh cùng chuyện đồng áng canh tác kỳ thực có chỗ giống nhau. Lúc bé phải dành những đứa rẻ sự dạy dỗ thích hợp, đào tạo cho nó những đạo đức cùng kiến thức đối nhân xử thế cần thiết cho sau này. Khi trưởng thành có thể dựa vào các kỹ năng sở học hoặc phát triển phấn đấu, trải qua những nỗ lực thời thanh niên, gây dựng nền móng sự nghiệp, gia đình con cái đều đã được củng cố, sức khỏe trí lực sút giảm thì phải dựa vào kế sách lúc còn trẻ làm nền móng cơ sở, tạo điều kiện cần thiết cho gia đình, đến cuối đời thì có thể an dưỡng tuổi già mà không sợ cuộc sống thiếu thốn.

Quay lại chúng ta xem trong sinh hoạt hàng ngày hoặc trong công việc gặp phải một ít chuyện đã trải qua như thể nào? Chúng ta làm một chuyện nào đó, lúc mới bắt đầu là chỉ có ý tưởng sơ khai, khi tương đối hoàn chỉnh khái quái và chi tiết thì sẽ tiến hành, đem ý tưởng biến thành hành động, trải qua một phen cố gắng hoặc lăn lộn đạt được một ít thành quả. Những thành quả này sẽ được đem ra so sánh với những mục tiêu dự kiến, nếu chưa đạt tới thì sẽ sửa đổi hành động, đến khi đạt mục tiêu dự trù mới ngưng, liền kết thúc hành động và nắm giữ kết quả sau cùng, dĩ nhiên kết quả này có thể thuận lợi hoặc không may.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Vòng đời của một sản phẩm cũng giống như vậy, có thời kỳ gia nhập thị trường, thời kỳ phổ biến, thời kỳ hoàn thiện, đến thời kỳ cuối cùng suy thoái rút lui khỏi chu kỳ thị trường.

Rộng hơn nữa, một quốc gia cũng có thời kỳ mới sáng lập, mở mang bờ cõi, tràn đầy sức sống lúc khai quốc, sau khi dựng nước, tiến vào chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, dân sinh đầy đủ sung túc, thành thời kỳ dân giàu nước mạnh; lại trải qua mấy thời kỳ hoàn thiện giữ gìn ổn định, đến cuối cùng bởi vì thời đại mới an nhàn thích hưởng thái bình, thiếu sót rèn luyện, quen với an nhàn, mất đi sự hăng hái mở mang bờ cõi vừa mất đi sự sáng suốt gìn giữ thái bình, dần dần bước vào thời kỳ suy thoái đổ nát, cuối cùng diệt vong, nhìn đất nước 5 ngàn năm lịch sử, các triều đại thay đổi, không phải như vậy sao?

Cho nên thông qua quan sát quá trình suy thịnh hưng vong của một sự việc, một sản phẩm, một người, một gia tộc, một công ty, thậm chí một quốc gia, thì chúng cùng với cây nông nghiệp bốn mùa sinh trưởng không hẹn mà hợp, liền đem một chút suy nghĩ này áp dụng vào môn lý học số mệnh Tử Vi Đẩu Số. Rốt cuộc thì quá trình sinh trưởng của cây nông nghiệp là gì? Chính là “cày bừa mùa xuân, làm cỏ mùa hè, thu hoạch mùa thu, cất giấu mùa đông”, người xưa đã đem quá trình này tiến hành suy rộng thêm, sau đótiếp tục suy đoán trên cái lý nhân mệnh trong Đẩu Số mà làm ra “Tứ Hóa”, ẩn dụ quá trình lành dữ họa phúc trong cuộc sống cùng những bước ngoặt hưng suy của vận trình đời người.

Cho nên, Tứ Hóa chính là được người trước sáng tạo ra Tử Vi Đẩu Số dùng để đại biểu danh từ “Cày bừa mùa xuân, làm cỏ mùa hè, thu hoạch mùa thu, cất giấu mùa đông”. Căn cứ những ghi chép trong “Tử Vi Đẩu Số toàn thư”: Hóa Lộc thuộc Kim, Hóa Quyền thuộc Hỏa, Hóa Khoa thuộc Mộc, Hóa Kỵ thuộc Thủy, phần lớn các sách trên thị trường đều định nghĩa thuộc tính thuộc tính ngũ hành của chúng là như vậy, những thứ định nghĩa này là sai lầm (không biết là tác giả của “Tử Vi Đẩu Số toàn thư” có cố ý viết sai hay không). Nếu như không làm rõ ràng được định nghĩa của chúng, thì cũng không có cách nào xác lập ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau giữa Tứ Hóa, đương nhiên sẽ theo đó mà không có cách nào để giải thích hiệu ứng lành dữ hoặc mức độ cát hung mạnh yếu sau khi Tứ Hóa tương tác với nhau.

Định nghĩa thuộc tính Ngũ Hành của Tứ Hóa Phi tinh Tử Vi Đẩu số và trong sách “Tử Vi Đẩu Số toàn thư” là có sự khác nhau, vì nó đem Tứ Hóa cùng sự canh tác bốn mùa tạo thành một cặp quan hệ đối ứng:

Cày bừa mùa xuân ---- Hóa Khoa
Làm cỏ mùa hè -------- Hóa Quyền
Thu hoạch mùa thu --- Hóa Lộc
Cất giấu mùa đông ---- Hóa Kỵ

Bây giờ lại xét đến định nghĩa về ngũ hành phương vị của Tứ Hóa trong phái Phi tinh Tử Vi Đẩu Số:

Phương đông thuộc Mộc: là bởi vì phương đông cây cỏ tươi tốt, là tượng trưng cho sự sinh trưởng giáo hóa, lại là ý tứ của mùa xuân, cho nên lấy “Gió xuân hóa mưa” so sánh với các ân đức của người thầy, vì vậy Hóa Khoa chủ về sự giáo hóa cùng công danh, cho nên Hóa Khoa thuộc phương đông Mộc vị.

Phương nam thuộc Hỏa: sức nóng của lửa bức xạ ra tứ phương, ngọn lửa bùng lên, có tượng của sự hăng hái tiến về phía trước, phương nam Hỏa vị, vừa là mùa hè, mà khi tới mùa hè thì cỏ cây sức sống mạnh mẽ, dâng trào bùng lên, xanh biếc dồi dào, đại biểu cho sự thành tựu, nỗ lực phấn vượt lên hàng đầu, hăng hái, cho nên là thuộc tính của Hóa Quyền.

Phương tây thuộc Kim: có cái tượng của sự xơ xác tiêu điều, sau khi vạn vật kết trái, cành khô lá rụng, liền muốn thu hoạch thành quả, ích dưỡng sinh mạng, cho nên Hóa Lộc thuộc phương tây Kim, mùa thu cũng vậy, mùa thu chủ xơ xác tiêu điều, chủ thu hoạch, cũng được lợi vậy.

Phương bắc thuộc Thủy: phương bắc là chỗ trời đông giá rét, cỏ cây tàn lụi, chim muông cùng tận, hết thảy sinh vật đều tạm ngừng hoạt động, tiến vào kỳ ngủ đông, là cái tượng của sự ẩn giấu cất giữ, cho nên Hóa Kỵ thuộc phương bắc Thủy vị, chủ về hình ảnh của sự thu liễm, cất giấu, tàn lụi.

Vậy mới nói, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thuộc cát, Hóa Kỵ là bất lợi, nhưng mà, có lúc cũng không hẳn là như vậy, thí dụ Hóa Lộc tại Tật Ách cung dễ thụ thương, người lớn tuổi dễ có áp huyết cao, nhọt dài,… cho nên giải thích là cát hay hung thì cần xem cung đó luận về sự việc gì, tiếp nữa lấy tổ hợp sao của chúng để xem kỹ hơn về ý nghĩa cát hung.

Vậy mới nói, cái ý nghĩa phổ biến của Tứ Hóa tinh là:
Hóa Lộc: nhân duyên, tài lộc, tình duyên, tài nghệ, hưởng thụ.
Hóa Quyền: thành tựu, quản chế, bá quyền, tự kiêu, cầm quyền, nguyên tắc.
Hóa Khoa: thiện duyên, giải ách, quý nhân, công danh, quý trọng, tài nghệ.
Hóa Kị: thiếu nợ, đạo nghĩa, hung họa, dính chặt, thay đổi, mất đi, đạt được.

Liên quan tới cái ý nghĩa phổ biến của Tứ hóa tinh, lúc vận dụng thì dựa vào cung vị chớ đừng lấy ý nghĩa sao tổ hợp trong cung để hiểu, như Hóa Khoa tại Tật Ách, thì phải lấy nghĩa của “Tật Ách” để hiểu chứ không thể giải là “Công Danh” được.

Nếu như có hai ngôi Hóa tinh trở lên mà đồng cung, thì mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa chúng có thể tùy theo thuộc tính Ngũ Hành của chúng để lý giải. Nhưng mà không thể nói được lành dữ của hai ngôi Hóa tinh đồng cung ấy, bởi vì việc giải thích lành dữ của Tứ Hóa là phải tùy theo cung vị cùng sao tổ hợp mà biến hóa, cái quan niệm này yêu cầu phải hình thành trước tiên:

- Hóa Lộc cùng Hóa Kỵ đồng cung: bởi vì Hóa Lộc thuộc kim, Hóa Kỵ thuộc thủy, kim sinh thủy tăng cường lực lượng Hóa Kỵ, vì vậy, Lộc Kỵ đồng cung là tăng cường lực lượng của Hóa Kỵ.

- Hóa Lộc cùng Hóa Quyền đồng cung: Hóa Lộc thuộc kim, Hóa Quyền thuộc hỏa, mà hỏa khắc kim, lửa nung kim chảy, cũng có thể đúc kim loại trở thành công cụ kim loại hữu dụng, cho nên có thể làm yếu đi hỏa lực, khiến cho năng lượng kim có nơi thuận lợi để mà phát huy, nhưng cũng có khả năng quá nóng mà dẫn tới tác dụng tiêu kim, dẫn đến Mệnh người có xu hướng tự tin cao hoặc bảo thủ cố chấp.

- Hóa Lộc cùng Hóa Khoa đồng cung: Hóa Lộc thuộc kim, Hóa Khoa thuộc mộc, kim khắc mộc, dao búa có thể chặt cây cối, cũng có thể đẽo gọt cây thành đồ vật, cho nên, sẽ tăng cường lực lượng Hóa Khoa, dẫn đến Mệnh người có biểu hiện tài văn chương cực cao.

- Hóa Quyền cùng Hóa Khoa đồng cung: Hóa Quyền thuộc hỏa, Hóa Khoa thuộc mộc, mộc sinh hỏa, thì thế lửa càng vượng, tăng cường lực lượng của Hóa Quyền.

- Hóa Quyền cùng Hóa Kỵ đồng cung: Hóa Quyền thuộc hỏa, Hóa Kỵ thuộc thủy, thủy khắc hỏa, vì vậy, lực lượng Hóa Quyền cắt giảm, nhưng lượng nước cũng sẽ bốc hơi, bị lửa tổn thương hại, cho nên trở thành chiến cục, Quyền Kỵ đồng cung thì tự mình có xung đột.

- Hóa Khoa cùng Hóa Kỵ đồng cung: Hóa Khoa thuộc mộc, Hóa Kỵ thuộc thủy, thủy sinh mộc, khiến cho cái thế của mộc vượng hơn, mộc chủ học thức, loại tổ hợp này có lợi cho nghiên cứu học vấn.

Cho nên, ý nghĩa tầng thứ nhất của Tứ Hóa, chính là đại biểu cho quá trình sinh mệnh [sinh ra – phát triển – kết quả - cất giữ] của Người hoặc Việc hoặc Vật.

Dĩ nhiên quá trình sinh mệnh ấy nhất định phải phát sinh ở cung vị liên quan thì mới có ý nghĩa, như Tứ Hóa của cung Quan Lộc, nhất định phải rơi vào các cung vị Tứ Chính là cung Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di thì mới tốt. Bởi vì suốt đời chúng ta theo đuổi cái theo cách nói thực tại chính là muốn “Công thành danh toại” mà “Công thành” đại biểu chính là sự nghiệp thành công, gia tài bạc triệu, thế còn “Danh toại” đâu? Chính là Quyền hoặc Khoa nhập Thiên Di, danh tiếng lẫy lừng.

Nếu như Tứ Hóa của cung Tài Bạch rơi vào các cung vị khác, thì do Tứ Hóa của cung Tài Bạch đại biểu cho quá trình sinh mệnh, không nảy sinh từ chính bản thân của bạn, cho nên rất rõ ràng là bạn không có cách nào để kiểm soát, vì vậy cũng không cách nào để đạt được.

Cho nên quan sát Tứ Hóa tạo các tình huống phân bố trên lá số, thì có thể hiểu mối quan hệ của một sự vật nào đó cùng với bạn là chặt chẽ hoặc rời rạc hoặc không có liên quan. Về phần giữa bạn và các Hóa của bạn xuất ra rơi vào cung nào có mối quan hệ chặt chẽ hay không, có thể dùng Can cung mà nó rơi vào để tái phi Tứ Hóa, xem cái Tứ Hóa này rơi vào chỗ nào trong sự phân bố trên lá số để mà phán đoán mức độ của sự nương tựa qua lại lẫn nhau, cho nên, ý nghĩa tầng thứ hai của Tứ Hóa có thể dùng để quan sát mức độ mà bạn có thể nắm trong tay hoặc mức độ chặt chẽ của mối quan hệ giữa bạn với người - sự - vật có liên quan.

Các vị có thể thấy rất kỳ quái, trong cái nghĩa thông dụng của Hóa Kỵ tựa hồ có chút mâu thuẫn tồn tại, đúng vậy, về mặt ý nghĩa con chữ là có sự xung đột tồn tại, nhưng sự khác nhau của [Hóa xuất] và [Hóa nhập] trong việc phối hợp Tứ Hóa lại có thể cho biết cần phải chọn áp dụng loại ý nghĩa nào để giải thích. Cho nên [Hóa nhập], [Hóa xuất] chính là quan niệm nhập môn của Tứ Hóa phi tinh, sau này sẽ có một chương chuyên biệt để nói rõ về ý nghĩa của [Hóa xuất] và [Hóa nhập].

Lại phải giải thích về ý nghĩa tầng thứ ba của Tứ Hóa, ý nghĩa của tầng này cùng vận đồ có liên quan, cũng chính là mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau của Mệnh bàn Tiên thiên cùng Mệnh bàn Vận hạn, lúc này liền phải cân nhắc mối quan hệ của [Hóa xuất] và [Hóa nhập]:

Giả như các Hóa của Mệnh gốc nhập vào Đại Hạn, đại biểu Mệnh gốc với Đại Hạn có mối quan hệ mật thiết, có xu hướng tiếp diễn hoặc thu hoạch. Giả như Mệnh gốc không có các Hóa nhập vào Đại Hạn mà ngược lại là tình huống Hóa xuất thì sẽ đại biểu cho mối quan hệ không chặt chẽ giữa Đại Hạn với Mệnh gốc, có xu hướng gián đoạn hoặc mất đi.

Cho nên thông qua mối quan hệ của Tứ Hóa giữa Mệnh gốc với Vận hạn, có thể đem mối quan hệ của người - sự - vật theo các thời gian khác nhau mà xâu chuỗi liên kết lại một mối, đồng thời quan sát mối quan hệ giữa chúng là sự [Thu liễm] hay sự [Phát tán], nếu như là [Hóa nhập] thì chính là sự [Thu liễm], còn [Hóa xuất] hoặc [Tự hóa] thì chính là sự [Phát tán].

Tứ Hóa là then chốt biến hóa của Đẩu Số, là dụng thần của Đẩu Số, không biết vận dụng Tứ Hóa sẽ không thể đoán mệnh, cho nên sách Phi tinh Đẩu Số đích khai tông minh nghĩa (giảng rõ tôn chỉ của của phái Đẩu Số Phi Tinh) liền nói:

Đẩu Số dựa vào [Thời] để lập Mệnh, đi theo Địa Chi, phân tán vào trong 12 cung mà lập cực, ứng với thời gian các tinh tú.

Đẩu Số xem trọng [Số] để lập Tượng, áp dụng Thiên can, thúc đẩy Tứ Hóa phi cung hóa diệu, bài bố không gian mà gieo tượng.

Đã chỉ ra rất rõ ràng, số mạng chính là từ cái chỗ lôi kéo của Thời Gian và Không Gian, mà mối quan hệ giữa Thời Gian và Không Gian là từ sự phối hợp giữa Địa Chi và Thiên Can. Vì vậy, không rõ cái tác dụng của Tứ Hóa, thì không thể biết mối quan hệ giữa Thời Gian và Không Gian, càng không có cách nào để biết được vào Thời Gian nào ở Không Gian nào sẽ xảy ra sự kiện nào, chỉ có thể hàm hồ sơ lược lấy đặc tính tổ hợp tinh tú để giải thích, không cách nào nắm chính xác mối quan hệ của [Sự Kiện - Không Gian hoàn cảnh - Thời Gian].

Cái gọi là [Hóa], chính là sự biến hóa cái khí của các sao vậy, cũng là nói về việc đem chuyển hóa tính chất của các sao thành năng lượng lành dữ tốt xấu, biểu thị vận trình thăng trầm của thế gian, cảnh vui buồn hợp tan của nhân sự. Các sao đều có tính chất riêng, chia Âm Dương, có Âm Dương mà sinh Ngũ Hành, chính là bản tính của các sao, cho nên được gọi là “tinh tính” (tính chất các sao).

Đó là lý do mà tính chất các sao không đơn thuần lấy làm biểu hiện cá tính con người, mà sự phối hợp các đặc tính Ngũ Hành cung vị khác nhau còn có sự vận dụng khác nhau, thêm nữa nhờ dùng sự biến đổi của Tứ Hóa, thì sinh sôi không ngừng, biến hóa muôn hình vạn trạng, dùng để đối ứng với vạn sự vạn vật mới không đến chắp vá. Cho nên phải hiểu tính chất các sao, càng phải biết vận dụng sự biến hóa cái khí của chúng, mới có thể vận dụng tinh tú mà liệu việc như thần, đó là lý do mà tầng ý nghĩa thứ tư của Tứ Hóa chính là ở chỗ chuyển hóa các tính chất các sao thành hình ảnh biểu hiện đối ứng với Người - Sự - Vật.

Như phán đoán việc tai nạn xe cộ (không tính tới xe đụng vào nhà), nhất định có liên quan tới việc đi ra ngoài, và có liên quan tới xe cộ:
Mà: Việc đi ra ngoài với [Cung vị] có liên quan.
Xe cộ với [Tính chất sao] có liên quan.
Hung họa với [Sự hóa khí] có liên quan.

Cho nên trong khi vận dụng ba yếu tố đó làm một khối, không thể thiên về một hạng mục nào, lúc ứng dụng Đẩu Số cũng không phân biệt Phi tinh phái, Tứ Hóa phái, Tinh tính phái, Tiểu hạn phái… phân biệt các phái đều là những kẻ chẳng hiểu về Đẩu Số. Nếu như là căn cứ vào lý luận trên một phương diện cố chấp nào đó của họ để nghiên cứu, cũng sẽ bị nhầm đường lạc lối, lãng phí thời gian cuộc đời. Sách vì độc giả mà xây dựng tính chất tổng thể, nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số có tính hệ thống, không làm vật hy sinh khi rơi vào vòng xoáy tranh luận của các môn phái.

Từ chương 2 đã nói rõ, Tứ Hóa không phải là thứ huyền bí, mà là có sẵn tác dụng xâu chuỗi liên kết Thời Gian với Không Gian. Có sự dẫn dắt liên lạc của Tứ hóa, mới biết được mối quan hệ của [Nhân] và [Quả]. Đương nhiên việc đoán mệnh là phải tìm ra mối quan hệ nhân quả thì mới là bản lãnh cao cường. Không phải là ai cũng có thể hiểu được loại quan hệ này, nhưng bản lãnh cơ bản của việc đoán mệnh đều nằm ở 3 yếu tố là Tứ Hóa, Tính chất sao, Cung vị (Lập hướng), mà lấy Tứ Hóa làm nghiệm chứng. Tứ hóa ở trên Mệnh bàn, theo 1 góc độ nào đó có thể phân ra như sau:

Tứ Hóa theo Can năm sinh
Tứ Hóa theo Cung mệnh
Tứ Hóa theo Đại Hạn
Tứ Hóa theo Lưu niên
……. (nếu suy đoán về Lưu Nguyệt, Lưu Nhật, cũng có thể làm rõ thêm)

Trong đó Tứ Hóa năm sinh chẳng qua là sự gieo tượng mà thôi, vô cát vô hung, nó là căn cứ Can năm sinh mà định, thuộc về hiện tượng có trạng thái tĩnh. Nhưng người ta từ lúc cất tiếng khóc chào đời, tức có động tĩnh thay đổi luân phiên của vận thế, trong khi nhất tĩnh nhất động lưu chuyển, tác dụng tương hỗ, dệt thành các hiện tượng cuộc sống con người có lên xuống, thành bại.

Cho nên:
Tứ Hóa năm sinh tứ hóa rơi vào mười hai cung trong chủ thùy tượng, vô cát vô hung, thuộc tĩnh.
Tứ Hóa năm sinh với tác dụng Tứ Hóa tương hỗ lẫn nhau trên 12 cung, sinh ra lành dữ, thuộc động.

Ý nghĩa Tứ Hóa theo Can năm sinh rơi vào mười hai cung:


Ý nghĩa Hóa Lộc theo Can năm sinh rơi vào mười hai cung

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn


Ý nghĩa Hóa Quyền theo Can năm sinh rơi vào mười hai cung:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Ý nghĩa Hóa Khoa theo Can năm sinh rơi vào mười hai cung:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Ý nghĩa Hóa Kị theo Can năm sinh rơi vào mười hai cung:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Dưới đây là ý nghĩa ngắn gọn các Hóa tinh năm sinh nhập vào 12 cung, trong đó có hiện tượng Song Hóa tinh nhập cung, sự giải thích ý nghĩa của chúng có khác với những giải thích thường gặp về tổ hợp Song Hóa tinh:

Giáp can: Liêm Trinh, Phá Quân
Ất can: Thiên Cơ, Thiên Lương, Thái Âm
Đinh can: Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Cự Môn
Mậu can: Thái Âm, Thiên Cơ
Kỷ can: Vũ Khúc, Tham Lang
Canh can: Thái Âm, Thiên Đồng, Thái Dương
Tân can: Cự Môn, Thái Dương

Ý nghĩat tổ hợp Song Hóa tinh có thể giải thích đơn giản như sau:

Lộc, Quyền đồng cung: tài lợi, phát đạt, danh lợi song toàn, thành tựu.
Lộc, Khoa đồng cung: sau khi thành danh mới được lợi, tài chính vững, có tài cán.
Lộc, Kị đồng cung: luận là song Kị.
Quyền, Kị đồng cung: khổ cực lấy kỹ năng kiếm tiền, với người với việc đều có sự nghi ngờ đầu voi đuôi chuột.
Khoa, Kị cùng cung: dùng kỹ thuật để sinh ra tiền tài, thu nhập vững vàng mà tốt, không quá tham lam tài lợi.

Nay lấy 1 ví dụ để nói rõ Tứ Hóa năm sinh nhập vào cung (Lược đồ)

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Lộc năm sinh ở Tử Tức: con cái thông minh, nhân duyên tốt, ngày sinh sẽ có thành tựu, bổn mệnh cũng tương đối quan tâm con cái, đem tiền đầu tư dạy dỗ con cái.

Quyền năm sinh ở Thiên di: xuất ngoại thành công, được mọi người tán thưởng thừa nhận, thích hợp xuất ngoại phát triển.

Khoa năm sinh ở Quan lộc: sự nghiệp vững vàng, duy trì trình độ tương đối, khó khăn bất trắc thường xuyên có trợ lực.

Kỵ năm sinh ở Huynh Đệ: quan tâm anh em, tuy giữa anh em có khá nhiều tranh chấp, nhưng không giảm tình cảm, anh em có khó khăn cũng sẽ rút đao tương trợ, anh em không thường ở chung một chỗ.

Phải chú ý là: Tứ Hóa năm sinh chẳng qua là gieo tượng mà thôi, chẳng phải hiện tượng lành dữ, cần phải có được hành vận phối hợp, Đại vận đi nghịch hoặc thuận kết quả hoàn toàn không giống nhau, phải tham khảo quan hệ tương hỗ giữa Tứ Hóa hành vận cùng Tứ Hóa trên lá số gốc, mới có thể suy đoán động tĩnh [Vận đồ] lên xuống.

#15 Quách Ngọc Bội

    Guru Member

  • Hội Viên TVLS
  • PipPipPipPipPipPip
  • 4517 Bài viết:
  • 29121 thanks
  • LocationThảo Nguyên

Gửi vào 18/03/2019 - 20:52

CHƯƠNG THỨ 14: ỨNG DỤNG CỦA TỨ HÓA


Tử Vi Đẩu Số dùng lá số để suy đoán mệnh vận, bên trong lá số thì có Thể có Thần.

Rốt cuộc thì [Thể] là cái gì? còn [Thần] là cái gì? Nói đơn giản, tam hợp phương của cung Mệnh là Thể, còn Tứ Hóa trên lá số gốc là Thần; ở phần trước đã cùng mọi người nói qua về Cách Cục, đây chính là cái [Thể] đại diện cho người chủ số mệnh ở trong lá số gốc. Tại sao lại lấy Tam Hợp phương để làm Thể?

Cái đạo lý rất đơn giản, người sống trên đời, có 4 loại nhu cầu dân sinh cơ bản là ăn, mặc, ở và đi lại, chẳng có cái nào là không cùng với tiền tài (Tài bạch) phát sinh mối quan hệ trực tiếp, cho nên Tài Bạch là cái gốc nuôi dưỡng Mệnh, muốn có thu nhập lớn về Tài Bạch thì tất nhiên phải có sự nghiệp tốt, có vận đồ may mắn, mới có thể bảo đảm nguồn thu nhập, không có sự nghiệp thì lấy đâu ra tiền tài? Cho nên cung Quan Lộc là ngọn nguồn của tiền tài (là Tài Bạch của cung Tài Bạch), tổ chức sự nghiệp thì phải có [Phẩm chất] mới có thể tiến hành sự nghiệp kiếm tiền, cho nên cung Mệnh là ngọn nguồn của Quan Lộc, những thứ khác như Phu Thê (vợ chồng), Tử Tức (con cái), Huynh Đệ (anh em), Bạn Bè (giao hữu), Phúc Đức là căn cứ vào Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc mà sinh ra mối quan hệ nương tựa. Nếu như sự nghiệp không tốt, vận kiếm tiền lại tồi, thì lấy đâu ra phúc đức để mà hưởng? Lấy cái gì ra để mà mua điền trạch? Lục thân làm sao để thân thiết? Loại quan hệ chủ khách này từ xưa ở thời nhà Tống đã là cái chỗ được người ta lý giải sâu sắc, rõ ràng, Mệnh - Tài Bạch – Quan Lộc là chủ thể của Mệnh.

Lại xem từ một góc độ khác, có rất nhiều chuyện đều là do tâm linh phát động, hơn nữa là dựa vào động tác cơ thể để mà đạt được, tỷ như: lúc gây dựng sự nghiệp, bạn sẽ dùng tâm tư tìm các nhân tố như nguồn vốn, năng lực kỹ thuật, có những ai cạnh tranh, sách lược thâm nhập vào thị trường…, thấy có cơ hội sẽ thừa dịp mạnh tay mà làm, cũng tức là trước tiên ở trong lòng đã chuẩn bị kế hoạch xem có thể thực hiện được hay không? Lại biến thành hành động. Cho nên, đó là do cái [Thần] dẫn lối mà cái [Thể] hành động. Nhưng không phải là cái [Thể] khống chế cái [Thần], rõ ràng là sự dẫn dắt chủ yếu của vận mệnh đều ở tại Tứ Hóa dụng thần, còn Cách Cục có địa vị thứ yếu, có sự thúc giục của Tứ Hóa mới có thể biến thành hành động, chứ không phải là bất kỳ mệnh tạo nào có Cách Cục tốt thì đều có thể giành được sự nghiệp vĩ đại. Làm sao để nắm được thời cơ tốt nhất, chờ thời cơ mà khởi sự, giành lấy sự nghiệp to lớn, sự suy luận trong Mệnh Lý có thể cung cấp để tham khảo.

Tứ Hóa chính là cái khí chỉ thị đánh giá có quyết tâm mãnh liệt hoặc ảnh hưởng mãnh liệt từ nhân tố bên ngoài hay không. Quan sát xem từ Tứ Hóa của Mệnh gốc, của Đại Hạn, trong mệnh bàn hình thành nên loại tổ hợp nào, liền đoán được mức độ mạnh yếu của tâm lực bản thân hoặc lực ảnh hưởng lớn nhỏ của nhân tố bên ngoài. Lực ảnh hưởng lớn nhỏ có thể quyết định một người gặp phải sự kiện là cát hay hung. Còn như, rốt cuộc là do tự mình hoặc nhân tố bên ngoài, thì phải xem xét một cung nhân sự nào đó để mà quyết định.

Tứ Hóa là dựa vào Thiên Can mà quyết định việc hóa hay không hóa, từ Thiên Can năm sinh để xác định ra 12 Can cung, mỗi một Can cung lại chủ nắm giữ 4 ngôi Hóa tinh, 12 cung phi xuất ra 48 ngôi Hóa tinh khác nhau. Những thứ này từ mệnh bàn (lá số) gốc phi xuất các Hóa tinh sẽ cùng với Tứ Hóa theo Thiên Can năm sinh cọ xát nhau mà sinh ra các hiện tượng lành dữ khác nhau. Đây chính là Dụng Thần của lá số gốc. Khi vận thế chuyển động, Tứ Hóa của lá số gốc lại sẽ cùng với Tứ Hóa của Đại Hạn, của Lưu Niên tứ hóa phát sinh ảnh hưởng, liền hiện ra cát hung của vận đồ vậy.

Thiên Can Tứ Hóa là chỉ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, ở các phương diện như cung tiền tài, tình cảm, chỗ ở, đều có những giải thích về cát hung khác nhau. Nói chung Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa chủ may mắn, nhưng lúc xem về chuyện ngoại tình thì lại không chủ về may mắn, tương tự thì Hóa Kị chủ về sự không thuận, nhưng trong một số vấn đề lại là hiện tượng may mắn. Cho nên giải thích về lành dữ của Tứ Hóa, hoàn toàn phải xem là loại sự kiện nào mà xác định, chúng ta thường thấy sự giải thích về Tứ Hóa là:

- Hóa Lộc: là thần của phúc đức, thủ ở các cung vị Thân, Mệnh, Quan Lộc, gặp Khoa Quyền tất làm chức đại thần. Gặp ở Tiểu Hạn, chủ có niềm vui thăng quan và tăng tiến tiền bạc. Mười năm Đại Hạn chắc chắn gặp may mắn. Ác diệu đi tới, cùng bị Dương Đà Hỏa Kị xung chiếu cũng không bị hại. Nữ nhân có cát tinh hội hợp thì thành mệnh phụ phu nhân, nhị hạn mà gặp, nội ngoại uy nghiêm, sát tinh hội hợp thì bình thường.
Còn nói: Kỷ thổ, nắm giữ cung Phúc Đức, chủ tài lộc. Thủ ở các cung Thân, Mệnh, Quan Lộc, gặp Khoa Quyền tất làm đại thần, cùng Lộc tồn giáp biên tất chủ giàu sang. Ở chỗ Tí Ngọ là cung Thiên Di thì văn chương cái thế. Lộc vướng vào nơi nhược địa, hoặc bị Không Kiếp vây hãm thì chủ không phát tài. Ẩn tàng ở Tứ Mộ cung Hóa Lộc vô dụng. Lộc gặp phải sự xung phá, cát cũng thành hung. Nữ mệnh thấy cát tinh tụ hội thì nội ngoại uy nghiêm, có thể làm mệnh phụ phu nhân. (Chú: Tứ Mộ là chỉ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cung).

Hóa Quyền: Quyền tinh là thần nắm giữ sự phân xử sinh sát, thủ ở các cung Thân Mệnh có Khoa Lộc tương phùng thì xuất tướng nhập tướng, Khoa Quyền tương phùng tất định là văn chương quán thế được mọi người ngưỡng mộ. Tiểu Hạn tương phùng, không có gì là không may mắn. Mười năm Đại Hạn tất nhiên đắc chí. Nếu như phùng Dương, Đà, Hao, Kiếp, Không, khiến cho lận đận, quan lại bị giáng chức. Nữ mệnh có được Hóa Quyền thì nội ngoại cân xứng, có thể làm mệnh phụ phu nhân. Tăng nhân đạo sĩ gặp được Hóa Quyền thì có danh tiếng, chưởng quản núi rừng, môn phái.
Còn nói: Giáp mộc, chưởng quản sinh sát, chủ quyền quý. Khoa Lộc tương phùng thì xuất tướng nhập tướng, văn chương quan thế. Hội hợp với Vũ Khúc hoặc Cự Môn ắt sẽ chưởng quản đại sự, hoặc nắm binh phù. Gặp phải Dương Đà Không Kiếp thì quan lại bị giáng chức. Quyền Lộc trùng phùng thì Tài Quan song mỹ. Sát tinh lại tới thì khiến cho thanh thế trống rỗng. Các cung Tài Bạch, Phúc Đức, có Quyền Lộc đến trấn giữ thì xuất thế vinh hoa. Quyền Lộc ở cung Nô Bộc thì dẫu có làm quan cũng vất vả bôn ba. Nữ mệnh có Hóa Quyền thì chủ nhân tính cương ngạnh, thích đoạt quyền chồng, nội ngoại xứng ý toại lòng.

Hóa Khoa: Khoa tinh ở trên thượng giới ứng với việc thi cử, là ngôi sao nắm giữ sự văn vẻ dịu dàng, thủ ở các cung Thân Mệnh có Quyền Lộc tương phùng thì được cái quan quý hàng đầu. Nếu như phùng ác diệu thì cũng là kẻ sĩ văn chương, có thể làm thầy sáng cho lứa trẻ tinh anh. Nữ mệnh có cát tinh củng chiếu thì chủ được phong tặng tước quý, dù cho có bị Tứ Sát xung phá cũng được phú quý. Gặp các khoa tinh củng chiếu thì luận giống như thế.
Còn nói: Nhâm thủy (chú: chỗ này có thể bị nhầm lẫn, xem thêm bên dưới Hóa Kị phần nói thêm có đề cập đến Hóa Kị là Nhâm thủy), chưởng quản các văn tinh, chủ về danh tiếng. Thủ ở các cung Thân Mệnh thì chủ nhân thông minh. Quyền Lộc tương phùng thì được cái quan quý hàng đầu. Nếu như gặp ác tinh, thì cũng là kẻ sĩ văn chương, có thể làm thầy sáng cho lứa trẻ tinh anh. Nhưng ngại gặp các sao Không. Tam Kỳ giáp Mệnh ắt là quý cách. Khoa Quyền đối củng thì vượt Vũ Môn. Khoa Lộc gặp ở cung Mệnh thì uy danh hơn người. Khoa minh Lộc ám thì tước vị đến Tam Thai. Khoa danh hãm ở nơi hung, bị vây hãm bởi Không Kiếp, hãm ở chỗ Dương Đà, Nhật Nguyệt hãm địa, Chính Tinh hãm địa thì mầm non chẳng thể tươi xanh. Nữ nhân mà Mệnh có thêm Quyền Lộc và cát diệu củng chiếu thì được phong tặng chủ quý, nếu như Tứ Sát xung phá thì vẫn chủ phú quý.

Hóa Kị: Kị là thần quản nhiều chuyện, thủ ở các cung Thân Mệnh thì cuộc đời không thuận lợi. Tiểu Hạn mà gặp thì một năm thiếu thốn. Đại Hạn mà gặp thì 10 năm có sự ăn năn hối hận. Nhị hạn hay Thái Tuế tới gặp thì chắc chắn lận đận. Quan văn thì tước vị không bền, quan võ dù có quan tai khẩu thiệt những vẫn không đáng ngại. Kể cả những thương nhân hay người thợ kỹ nghệ cũng đều không hợp với Hóa Kị, lợi khi được hội thêm Tử Phủ Xương Khúc Tả Hữu Khoa Quyền Lộc cùng với Kị đồng cung. Nếu kiêm thêm Tứ Sát cùng tồn tại thì cho dù phát tài cũng không tốt, công danh cũng không có thành tựu. Nếu như chỉ gặp Tứ Sát, Hao Sứ Kiếp Không thì chủ bôn ba mang tật. Tăng Đạo sa vào đường hoàn tục. Nữ nhân gặp Kị thì một đời người nghèo mà yểu.
Còn nói: Nhâm thủy, là sao chủ sự đố kị, thần quản nhiều chuyện, chủ thị phi không thuận. Nhị hạn mà gặp thì chắc chắn lận đận, văn nhân không được bền lâu, võ nhân gặp quan tai, kẻ làm công thương thì không thuận lợi, miệng lưỡi không khỏi, phiền não thất vọng. Tử Phủ Xương Khúc, Tả Hữu, Tam Kỳ, cùng đồng hành với Hóa Kị, lại kiêm cả Tứ Sát, tiền tài không bền, công danh bất thành. Nếu như đơn thủ gặp Sát, thì bôn ba mang tật, theo tăng đạo đi xa không trở lại. Miếu vượng không kị, hãm địa rất kị. Thiên Đồng ở Tuất là Kị, năm sinh Đinh thì phản chuyển thành tốt. Cự Môn ở Thìn là Kị, người tuổi Tân phản chuyển thành tốt. Nhật Nguyệt hãm địa mà hóa Kị thì đại hung. Liêm Trinh hãm mà hóa Kị thì càng Kị. Nữ mệnh gặp phải thì hung, gian khổ sống qua ngày.

Mọi người thấy Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa tọa Mệnh, thì trong lòng âm thầm vui mừng khôn xiết, còn nếu như thấy Hóa Kị ở cung Thiên Di chiếu Mệnh liền âm thầm kinh hãi, nguy rồi! Bị Hóa Kị nhìn chòng chọc nhất định sẽ không thuận lợi, sẽ có thị phi. Những quan niệm và nhận xét đó chưa hẳn hoàn toàn đúng, bởi vì nếu như không chú ý đến khác biệt giữa [Hóa Nhập] với [Hóa Xuất ], thì không cách nào phân biệt được sự [Xuất] với [Nhập], sẽ không biết được Hóa Lộc là [Được] hay [Mất], không biết Hóa Kị là [Cát] hay [Hung]. Khác gì có một vị [chuyên gia Đẩu Số] bình luận rằng: "Tứ Hóa bay đầy trời, không biết cái nào ngôi sao mới thật sự là Tứ Hóa". Thế này là không biết gì về mối quan hệ của [Hóa Xuất ], [Hóa Nhập] với các Cung vị, tổ hợp tinh tú, cho nên không thể nào hiểu được quy tắc của Tứ Hóa Phi Tinh, thế cho nên mới có cái kiểu bình luận " hùng hồn" như thế.

Phàm là Tứ Hóa phi xuất từ Can năm sinh, bất kể rơi vào cung vị nào thì cũng gọi là [Hóa Nhập]. Nếu Can cung của cung vị mà chúng rơi vào lại không khiến cho các sao tọa trong cung ấy tự hóa, thì gọi [Hóa Trung]. Ba ngôi Hóa tinh cát lợi từ Can năm sinh thì tốt nhất là rơi vào các cung Mệnh, Tài, Quan (còn gọi là cung Sự Nghiệp) của lá số gốc, còn sao Hóa Kị không được ở cung Thiên Di, Phúc Đức, Phu Thê để xung tới tam hợp (tức là sợ bị xung vào Mệnh Tài Quan), đây chính là cái được gọi là [Tam Cát gia hội cách]. Thế nhưng cách cục ấy nhất định cần cung Mệnh tọa sao Hóa Lộc thì mới có hiệu dụng; còn nếu như từ tam phương chẳng có Tam Cát hóa tinh hội nhập về cung Mệnh, thì chỉ chủ về quang cảnh bề ngoài mà thôi, là ảo chứ không thực.

Môn phái của tôi đối với sự giải thích về Tứ Hóa, giản dị như sau:
Hóa Lộc chủ tình duyên, tài lộc;
Hóa Quyền chủ quản chế, uy nghiêm;
Hóa Khoa chủ khoa bảng, giáo dục, văn hóa;
Hóa Kị chủ cất giấu, hối hận sai lầm.

Bởi vì Tứ Hóa theo Can năm sinh đều là Hóa nhập, cho nên ý nghĩa của các Hóa đó nhập vào trong cung vị của mệnh bàn có thể xem xét cân nhắc để giải thích. Thế nhưng Hóa Kị theo Can năm sinh rơi vào cung lục thân chính là mang ý nghĩa nợ nần, nếu như rơi vào các cung Điền Trạch, Phúc Đức, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di thì đại biểu cho tư tưởng đặt vào những nơi đó, bởi vì chữ Kị (忌) mang ý nghĩa chiết tự là cái "Tâm” (心) của “Bản thân” (Kỷ 己), cho nên Hóa Kị theo Can năm sinh xuất hiện ở cung Điền Trạch đại biểu cho người đó đặt cái tâm ở gia đình, hết giờ đi làm thì liền muốn ở trong nhà mà ít đi ra ngoài, đây là cái tượng ẩn tàng. Nếu như Hóa Kị ở cung Huynh Đệ, thì đại biểu cho cái tâm đặt ở những người anh chị em, vì vậy sẽ chi trả tiêu tốn cho anh chị em, cho nên thành nợ nần; đương nhiên, vì Hóa Kị ở cung Huynh Đệ nên anh chị em sẽ tương đối không thuận lợi, đó là hiện tượng tất nhiên.

Can của năm sinh cùng với Can của một cung nào đó trên mệnh bàn có sự tương đồng, thì đại biểu cho những hoạt động và vận trình thăng trầm trong cuộc đời của người này là đều có mối quan hệ chặt chẽ với cái cung ấy. Thí dụ như: người nào đó năm sinh là Giáp, mà cung Tài Bạch trên lá số cũng có Can là Giáp, thì những hoạt động trọng điểm trong vận mệnh cả đời của người đó đều lấy của cải và việc kiếm tiền để làm chủ, hơn nữa còn là thuộc về cái cách tự lập cánh sinh. Còn nếu như Can năm sinh với Can của cung lục thân có sự tương đồng, thường thường sẽ sản sinh tính liên quan chặt chẽ cung lục thân ấy.

Các cung Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Điền Trạch gọi là Ngã Cung (gọi là cung của mình vì những cung này mình có thể điều khiển được theo ý mình), cái khác xưng là Tha Cung (gọi là cung ngoài mình vì những cung đó có ý chí riêng và ta khó có thể điều khiển được). Tứ Hóa cần được nhập vào Ngã Cung thì mới tốt, còn nhập vào tha Cung tức là Hóa Xuất, chủ về những sự tổn thất, bất lợi.

Nếu như chúng ta muốn luận về bản chất tính cách của một người, có thích hợp với việc kinh doanh hay không, hoặc là nên làm những công việc gì? Đối với vấn đề này, chúng ta phải từ những sao tọa ở cung Mệnh có đặc tính của việc buôn bán như [tính chất tính toán, kiên nghị chịu khổ] thì mới thích hợp theo nghề buôn bán. Còn các sao tọa Mệnh mà thuộc về dạng thanh cao (như Thiên Lương), nho nhã (như Thái Âm hoặc Thiên Đồng) thì tương đối không thích hợp với sự nghiệp kinh doanh hay thương mại hoành tráng, mà chỉ thích hợp tham gia nghề phục vụ, đây đều là từ tính chất tinh đẩu để mà luận lên. Thế nhưng tinh tú sau khi đụng tới Tứ Hóa, sẽ biến đổi chứ không phải là như tính chất vốn có ban đầu, thí dụ như Thiên Lương hóa Lộc tọa cung Thiên Di ở trong phú văn của các bậc tiên hiền về Đẩu Số thì có nói là [cự thương cao cổ] (buôn to bán lớn) thì so với tính chất thanh cao của sao Thiên Lương là hoàn toàn khác biệt. Vì vậy, một khi gặp Tứ Hóa, tính chất của sao sẽ hoàn toàn thay đổi, cho nên tính chất của sao và Tứ Hóa là cần phải luân phiên mà sử dụng.

Tỷ như mệnh lệ 1:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Vũ Khúc, Thiên Tướng tọa Mệnh ở cung Nhâm Dần, đối chiếu với cách nói thông thường trên sách, người này giàu nghĩa khí, thích bênh vực kẻ yếu, cá tính chính trực kiên cường. Tam hợp lại là [cách Tử Phủ triều viên], người này thường qua lại kết giao cùng giới nhân sĩ quân đội, chính trị, tài chính, cũng nhờ sự trợ giúp của bọn họ mà thành công, trở thành hào phú, cuộc đời nhiều yến tiệc.

Lại xem Tứ Hoá theo Can năm sinh:
Hóa Lộc rơi vào cung Tử Tức: Người này thương yêu con cái, có tiền liền dành để tiêu pha cho con cái.
Hóa Quyền, Hóa Kị đều là rơi vào cung Huynh Đệ: Hóa Kị vốn chủ mắc nợ với anh em, Hóa Quyền vốn cũng chủ anh em có thành tựu, hai sao rơi vào phản chuyển thành sự tranh chấp, tình trạng không hòa thuận.
Hóa Khoa rơi vào cung Điền Trạch: Chính là chủ về lượng nhà cửa đất đai vừa phải, không lớn không nhỏ.

Can cung Mệnh tọa Nhâm: Sao Vũ khúc tự hóa Kị, đây là Hóa Xuất, biểu thị cái tâm của mình hướng ra bên ngoài, cho nên sẽ tương đối không vì cái lợi của bản thân, thà rằng chính mình chịu thiệt cũng không chiếm lợi thế của người. Hơn nữa tâm đã hướng ra bên ngoài thì đối với mình sẽ thiếu sự tự tin, lại thêm Hóa Kị chủ về tượng ẩn tàng, cho nên Kị xuất thì sẽ không ẩn tàng được nữa, khiến cho của cải và danh lợi hầu hết đều vì không có cách nào che giấu nên tổn thất hoặc bị cơ hội trôi qua một cách uổng phí. Vì vậy cách cục kinh thương kiểu này thường không biết nắm cơ hội mà bị tổn thất, thực sự không thích hợp ở kinh thương, nếu miễn cưỡng phải làm việc buôn bán, cũng nên làm cửa hàng nhỏ lẻ, hoặc làm nghề mua bán dùng tiền mặt thì sẽ khá tốt.
Mặc dù cách [Tử Phủ triều viên] là rất đẹp, nhưng Tứ Hóa dụng thần lại không tốt, cho nên vẫn không có cách nào để thành tựu sự nghiệp lớn.


Bây giờ ta xem mệnh lệ 2:

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn




Là vị tiểu thư năm sinh Giáp Thìn, cung Mệnh cũng là ở vị trí cung Dần: sao Tham Lang, Thiên Diêu, Lộc Tồn cùng tọa Mệnh, tam hợp là cách cục [ Sát Phá Lang ], căn cứ đặc tính của sao Tham Lang, biết vị tiểu thư này tửu lượng không tệ, hiếu động giỏi ngoại giao, nhiều phen tiệc rượu, rất dễ dàng gần gũi người khác giới. Hơn nữa sao Thiên Diêu càng tăng thêm tính mạnh cho khuynh hướng này, may mắn cực kỳ khi có Lộc Tồn làm bạn, bằng không khó mà tưởng tượng nổi, mặt khác, giống như là tán dóc dụ cho người ghé mắt, chú trọng hưởng thụ vật chất, không thể chịu gian khổ mà kiếm tiền, có khuynh hướng đầu cơ mạo hiểm, có đặc tính thích thay đổi không kiên nhẫn, cũng không nên xem nhẹ.

Hơn nữa, tam hợp lại là cách [ Sát Phá Lang ], đặc tính của cách cục này là hiện trạng không yên, thích sáng tạo đổi mới, nghị lực kiên cường, không sợ gian khổ, thích biến động xuất ngoại, tánh tình nóng nảy, có quyết tâm về sự sáng lập, tính tương thích nhiều nghề nghiệp, có thể theo văn có thể theo võ.

Lại xem đến Tứ Hóa năm sinh:
Hóa Lộc của năm sinh rơi vào cung Thiên Di: tiên phong rất mạnh mẽ, quan hệ nhân tế không tệ, trong giao tế khảng khái. Hơn nữa hóa Lộc lại cùng với sao Lộc Tồn trong cung Mệnh tạo thành trạng thái đối chiếu, là kiểu cách cục tài nguyên thịnh vượng.
Hóa Quyền năm sinh rơi vào cung Tài Bạch: Thích nắm quyền sở hữu tài sản, tự mình chi phối việc sử dụng tiền tài, giỏi dùng tiền tài để đầu tư phát tài.
Hóa Khoa năm sinh rơi vào cung Phu Thê: Đại biểu trong đời sống tình cảm có sự trợ lực gặp dữ hóa lành, hơn nữa tướng mạo thân thể củangười chồng cũng rất cân xứng vừa phải;
Hóa Kị năm sinh rơi vào cung Huynh Đệ: Chủ người này mắc nợ anh chị em, sẽ vì anh chị em mà chi trả (vật chất hoặc tinh thần). Mà trùng hợp là Hóa Kị ở cung Huynh Đệ cùng sao Đà La (hóa khí cũng gọi là Kị) cho nên cung Huynh Đệ hứng cả cặp Hóa Kị, trong số anh chị em phải có sự tổn hại, hơn nữa vận trình của anh chị em cũng kém.

Lại xem tam phương, hội chiếu vào có Hóa Quyền và Hóa Lộc theo Can năm sinh, thì người này mặt mang quý khí, có sự uy nghiêm, đây là tính chất đặc biệt của Tứ Hóa dụng thần biểu hiện trên thân thể con người. Còn nói về Hóa Kị cảm quan là người trầm mặc ít nói; hơn nữa, cung Tài Bạch có Can là [Giáp] cùng với Thiên Can năm sinh tương đồng, cho nên biết người này là cách tự lập.

Can cung Mệnh tọa Bính: Liêm Trinh hóa Kị ở cung Thiên Di, đại biểu cái tâm ở bên ngoài, người này rất thẳng thắn, lòng dạ không sâu, dễ chung sống, đáng tiếc thường quên lời hứa; Thiên Cơ hóa Quyền ở cung Phụ Mẫu, Quyền tinh là chấp chưởng uy nghiêm, là sao về quyền thế, cho nên lúc nói năng với trưởng bối đương nhiên không khách khí, có lý thì cãi đến cùng, hơn nữa giỏi ăn nói, chẳng qua là cung Phụ Mẫu tọa can Đinh, khiến Cự Môn hóa Kị, dù có khéo tranh cãi cũng không có cửa, người ta không tha.

Đem các đặc trưng nói trên sắp xếp điểm khởi đầu, sau đó có thể giải thích nhiều đặc tính khác của người này, cho nên bảng Thiên can Tứ Hóa phải nhớ thành thục, mới có thể dùng dụng thần của Đẩu Số, chính là Tứ Hóa, vận dụng như thần.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn



Thanked by 6 Members:





Similar Topics Collapse

  Chủ Đề Name Viết bởi Thống kê Bài Cuối

1 người đang đọc chủ đề này

0 Hội viên, 1 khách, 0 Hội viên ẩn


Liên kết nhanh

 Tử Vi |  Tử Bình |  Kinh Dịch |  Quái Tượng Huyền Cơ |  Mai Hoa Dịch Số |  Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Địa Lý Phong Thủy |  Thái Ất - Lục Nhâm - Độn Giáp |  Bát Tự Hà Lạc |  Nhân Tướng Học |  Mệnh Lý Tổng Quát |  Bói Bài - Đoán Điềm - Giải Mộng - Số |  Khoa Học Huyền Bí |  Y Học Thường Thức |  Văn Hoá - Phong Tục - Tín Ngưỡng Dân Gian |  Thiên Văn - Lịch Pháp |  Tử Vi Nghiệm Lý |  TẠP CHÍ KHOA HỌC HUYỀN BÍ TRƯỚC 1975 |
 Coi Tử Vi |  Coi Tử Bình - Tứ Trụ |  Coi Bát Tự Hà Lạc |  Coi Địa Lý Phong Thủy |  Coi Quỷ Cốc Toán Mệnh |  Coi Nhân Tướng Mệnh |  Nhờ Coi Quẻ |  Nhờ Coi Ngày |
 Bảo Trợ & Hoạt Động |  Thông Báo |  Báo Tin |  Liên Lạc Ban Điều Hành |  Góp Ý |
 Ghi Danh Học |  Lớp Học Tử Vi Đẩu Số |  Lớp Học Phong Thủy & Dịch Lý |  Hội viên chia sẻ Tài Liệu - Sách Vở |  Sách Dịch Lý |  Sách Tử Vi |  Sách Tướng Học |  Sách Phong Thuỷ |  Sách Tam Thức |  Sách Tử Bình - Bát Tự |  Sách Huyền Thuật |
 Linh Tinh |  Gặp Gỡ - Giao Lưu |  Giải Trí |  Vườn Thơ |  Vài Dòng Tản Mạn... |  Nguồn Sống Tươi Đẹp |  Trưng bày - Giới thiệu |  

Trình ứng dụng hỗ trợ:   An Sao Tử Vi  An Sao Tử Vi - Lấy Lá Số Tử Vi |   Quỷ Cốc Toán Mệnh  Quỷ Cốc Toán Mệnh |   Tử Bình Tứ Trụ  Tử Bình Tứ Trụ - Lá số tử bình & Luận giải cơ bản |   Quẻ Mai Hoa Dịch Số  Quẻ Mai Hoa Dịch Số |   Bát Tự Hà Lạc  Bát Tự Hà Lạc |   Thái Ât Thần Số  Thái Ât Thần Số |   Căn Duyên Tiền Định  Căn Duyên Tiền Định |   Cao Ly Đầu Hình  Cao Ly Đầu Hình |   Âm Lịch  Âm Lịch |   Xem Ngày  Xem Ngày |   Lịch Vạn Niên  Lịch Vạn Niên |   So Tuổi Vợ Chồng  So Tuổi Vợ Chồng |   Bát Trạch  Bát Trạch |